Giảng Kinh

Chương Thứ Ba: Giảng Kinh

Trần Do Bân

Dịch từ nguyên bản Hoa Ngữ : Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích Phật Học Cống Hiến đăng trên nguyệt san Vajra Bodhi Sea từ số tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997.

Các kinh sách Hòa Thượng đã giảng trong suốt cuộc đời của Ngài được liệt kê tổng quát như sau: Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Tâm Kinh, Kinh Lục Tổ, Kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Bốn Mươi Hai Chương, Bách Pháp Minh Môn Luận, Kinh Di Giáo, Chứng Đạo Ca của Đại Sư Huyền Giác– tất cả có hơn 30 loại khác nhau. Ngoài ra Hòa Thượng còn giải thích về hai lãnh vực triết học của Trung Hoa: Tứ Thư và Kinh Dịch. Trong tất cả những kinh sách này có ba tác phẩm rất đặc biệt, ít có người giảng giải, đó là: Kệ và Chú Giải Chú Lăng Nghiêm, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và Phật Tổ Đạo Ảnh (Chân Dung Chư Tổ Phật Giáo) giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay.

Loạt bài thuyết giảng Kệ và Chú Giải Chú Lăng Nghiêm [Lăng Nghiêm Chú Cú Kệ Sơ Giải] kéo dài tám năm, từ 1979 đến 1987. Trong suốt lịch sử Phật Giáo, bài chú này hiếm khi được giải thích. Chỉ có Đại Sư Tục Pháp của triều nhà Thanh và Pháp Sư Bá Đình ở  Từ Vân Tự tại Vũ Lâm là từng giảng giải chú này. Pháp Sư Bá Đình nghiên cứu  Mật Bộ và trước tác bộ Lăng Nghiêm Kinh Quán Đảnh Sớ gồm hai mươi sáu quyển, dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa, và sau đó giải thích chi tiết về mật chú này.

Trong Kinh và Chú của Phật Giáo, có “năm loại không phiên dịch” (ngũ chủng bất phiên) bởi vì ngôn ngữ bí mật của chư Phật khó cho hầu hết các vị thánh khác hiểu được, chứ đừng nói đến người thường. Mặc dầu theo thông lệ là không dịch các bài chú trong kinh, tuy nhiên người ta có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Một số người nghĩ rằng việc dịch ý nghĩa của các bài chú có thể mang lại hai mươi bốn loại lợi ích. Vì vậy, khi Hòa Thượng có được bản  Lăng Nghiêm Chú Sớ vào năm Dân Quốc thứ 38 (1949), Ngài đã ghi lại: “Tôi có được điều mà trước đó tôi chưa từng có. Tôi miệt mài nghiên cứu và có được một cái nhìn về cảnh giới vi mật . Tôi luôn luôn mang sách theo bên mình và không bao giờ xa rời.”

Ngài cũng nói: “Để cho Chánh Pháp được trụ thế lâu dài  và để chận đứng tà thuyết, mọi người cần phải hiệp lực và thâm nhập đại định rốt ráo kiên cố.”

Sau khi Hòa Thượng đến Hoa Kỳ, Ngài  tuyên giảng Chú Lăng Nghiêm, dùng thể thơ bảy chữ (thất ngôn) để giải thích từng câu một của bài Chú Lăng Nghiêm dài 554 câu, và sau đó chú giải theo ngôn ngữ thời nay. Đây thật là một kiệt tác “xưa nay chưa từng có”, vô cùng quý giá. Hòa Thượng nói:

“Dùng thể thơ tứ tuyệt để giải thích từng câu của bài Chú thì không cách nào giải thích trọn vẹn được, bởi vì diệu nghĩa trong bài Chú thì vô tận vô biên. Bốn câu thơ chỉ đề cập đến ý nghĩa tổng quát – chỉ ném ra một miếng gạch, hy vọng sẽ có người tìm ra được ngọc thạch. Bốn câu thơ có vẻ đơn giản, nhưng xuất phát từ tâm tôi. Quý vị có thể nói đó là máu của tôi, là mồ hôi của tôi. Đây chắc chắn không phải là ăn cắp văn (đạo văn) [tầm chương trích cú], sao chép lại của một người khác! Bây giờ tôi giải thích Chú Lăng Nghiêm cho quý vị, bài Chú mà trải qua trăm ngàn vạn kiếp cũng chưa từng có ai giải thích. Ngoài ra, cũng không dễ gì để giải thích trọn vẹn. Khi tôi giải thích chú này, tôi biết không có người nào trong quý vị hiểu tôi nói gì. Ngay cả những người họ nghĩ là họ hiểu được, thật sự họ cũng không hẳn đã hiểu được thấu đáo. Nhưng có thể mười năm, một trăm năm hay một ngàn năm sau, sẽ có người   đọc được những lời giải thích đơn giản này và có được sự hiểu biết sâu xa.”

Dưới đây là những lời khai thị của Hòa Thượng về Chú Lăng Nghiêm:

“Vô tận diệu mật thật khó lường

Kim cang mật ngữ từ tự tánh

Trong Chú Lăng Nghiêm đủ hiệu năng

Khai mở đường ngũ nhãn lục thông.

Là Vua Kiên Cố trong các định

Trực tâm tu học đến Đạo Tràng

Thanh tịnh các nghiệp thân, khẩu, ý

Quét sạch vọng niệm tham, sân, si.

Thành tâm cảm ứng được chứng đắc

Từ định thành tựu đại thần thông

Đủ đức được gặp câu diệu huyền

Luôn luôn đừng quên việc xiển dương.

Ngài A Nan đã chứng Sơ Quá, mà vẫn còn chịu nạn bởi người phụ nữ. Đức Phật phải dùng Chú Lăng Nghiêm để cứu ngài. Huống gì trong trường hợp của người thường ? Nếu chúng ta không nương tựa vào Chú Lăng Nghiêm, làm sao chúng ta có thể chấm dứt sanh tử được ? Hễ còn dù chỉ một người trên thế gian này biết tụng thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm thì yêu ma quỷ quái sẽ không dám xuất hiện công khai. Nhưng đến thời điểm mà không còn ai tụng thuộc Chú Lăng Nghiêm nữa thì yêu ma quỷ quái sẽ công khai xuất hiện.

Thật ra, bằng cách học Chú Lăng Nghiêm quý vị đã là hóa thân của Phật,  không chỉ là hóa thân mà là hóa thân Phật trên đảnh của Phật. Những đặc tính của Chú Lăng nghiêm thật khó nghĩ bàn !”

Bây giờ chúng tôi xin giới thiệu Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải (Chân Dung Các VịTổ Phật Giáo Giải Thích Bằng Bạch Thoại), là công trình do Hòa Thượng giảng giải trong mười ba năm, trải dài từ năm 1972 đến năm 1985, tổng cộng 346 đề tài. Những nhân vật quan trọng được giới thiệu trong quyển này như sau: từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi xoay cánh hoa và mỉm cười vi tiếu, truyền pháp cho Tôn Giả Ca Diếp; rồi Tôn Giả Ca Diếp truyền tiếp đến Nhị Tổ là Tôn Giả A Nan, và tiếp tục như vậy cho đến vị tổ thứ hai mươi tám là Tổ Bồ Đề Đạt Ma, người đã mang Pháp Thiền sang nước Trung Hoa và trở thành Sơ Tổ ở Trung Hoa.

Sau tiếp tục truyền đến tổ thứ ba mươi ba (tức là tổ thứ sáu tại Trung Hoa – Lục Tổ Huệ Năng) Đại Sư Huệ Năng, đến lúc đó “một hoa nở năm cánh,” sau đó truyền ra Năm Nhà (Ngũ Gia) cùng  Bảy Tông (Thất Tông), đó là Tông Pháp Nhãn, Tông Tào Động, Tông Vân Môn, Tông Quy Ngưỡng, Tông Lâm Tế cũng như phái Hoàng Long và phái Dương Chi.

Thêm vào đó là nhánh Ngưu Đầu, những vị thánh tăng của hai nước đông [Trung Hoa] và tây [Ấn Độ], Tông Thiên Thai, Tông Hoa Nghiêm, Tông Từ Ân, Tông Du Già, Luật Tông, Tông Liên Xã, và mười vị cao tăng đương thời, và tổng công là ba trăm ba mươi tám [338] vị cao tăng được giới thiệu. Mỗi vị đều có bài kệ tán (thể thơ tám câu thông dụng của Trung Hoa, mỗi câu có bảy chữ – thất ngôn bát cú). Từ Đại Sư Vĩnh Minh Thọ, là tổ thứ sáu của Tông Liên Xã và tiếp tục đến các cao tăng đương thời, Đại Sư Quảng Khâm, một bài thơ tám câu bốn chữ (tứ ngôn bát cú) khác được thêm vào. Có thể nói rằng ba trăm ba mươi tám (338) vị Tổ đang được tán thán.

Bởi vì nguyên văn được viết theo thể văn chương Trung Hoa và không có chấm câu và thêm vào đó là những “thiền ngữ giác ngộ” nên trở thành khó hiểu thêm. Thật khó mà thăm dò bề sâu cảnh giới bí mật của các vị đại đức thời xưa. Chỉ có thể nói là không thể nói ra được và “chỉ liên hệ đến ‘người uống nước mới tự biết nóng lạnh’.”

Thật ra sự giải thích của Hòa Thượng về Chân Dung Chư Tổ Phật Giáo thành hình là do những đại nhân duyên. Vào năm 1958, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi quyển sách này đến Hòa Thượng Tuyên Hóa cùng với bức thư trong đó nói rằng:  “Thầy gởi con quyển Chân Dung Chư Tổ Sư mà Thầy đã trước tác trong nhiều năm gần đây. Hãy đọc và thuộc quyển sách này và Thầy hy vọng con sẽ được lợi ích cho mình, làm lợi ích cho người và trân quý Đạo.”

Thật sự vào ngày 9 tháng 4 năm 1956, Lão Hòa Thượng Hư Vân gởi phiếu điệp đến Hòa Thượng Tuyên Hóa để truyền cho Ngài [Hòa Thượng Tuyên Hóa] là tổ thứ chín dòng thiền Quy Ngưỡng. Trong thư nói rằng:  “Con là đệ tử đã quan tâm đến việc bảo tồn Phật Pháp và sự tiếp nối huệ mạng của Chư Phật Tổ. Bây giờ, thuận theo hạnh nguyện của con, Thầy gởi con Nguồn Chỉ, kế thừa mạch huyết Tổ Sư, Đạo của Chư Tổ. Phó chúc cho con, sẽ được thịnh mậu. Hy vọng rằng sự truyền thừa này sẽ bất diệt.” Đây là bằng cớ Hòa Thượng Tuyên Hóa đã theo huấn thị của Thầy mình và giải thích Chân Dung Chư Tổ Phật Giáo sang ngôn ngữ dễ hiểu của thời đại ngày nay để chúng sanh có thể được lợi ích của Pháp chưa từng có này. Đây là lý do tại sao tôi xem ba tác phẩm này là sự nghiệp quan trọng nhất của Hòa Thượng. Những chúng sanh may mắn được đọc những Pháp bảo này thật có nhiều phước báo.

Tôi phỏng chừng Hòa Thượng Tuyên Hóa đã làm hơn hai ngàn bài thơ và kệ trong suốt cuộc đời ngài. Mỗi bài kệ đều có vần điệu và là bằng cớ về trí huệ Bát Nhã thâm sâu của Hòa Thượng.

Điều này đặc biệt đúng đối với những bài kệ về Chú Lăng Nghiêm chưa từng có trước đây; chỉ những người thật sự thâm nhập Lăng Nghiêm Định mới có khả năng giải thích như vậy. Ngoài ra sự giải thích của Hòa Thượng về Chân Dung Chư Tổ Phật Giáo có lúc vượt ra ngoài sử liệu, làm độc giả thắc mắc là có phải Hòa Thượng có thần thông biết được tiền kiếp (Túc Mạng Thông) hay không ?

http://www.dharmasite.net/bdh71/GiangKinh.html#top

About these ads
This entry was posted in TUYEN HOA. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s