TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH (IV): HỒI -DƯƠNG BIÊN HOẶC

  • HỒI -DƯƠNG BIÊN HOẶC
  • Trào Thanh Nhơn -quả Hồi -dương,
    Tự -Kỳ tâu hỏi, Minh -vương phán rành :
    Là vua Nhứt -điện U-minh (Tần -quảng -vương)
    Dạy việc tu hành chỉ nẻo siêu thăng :
    ‘ Ngũ -luân là đạo lẽ hằng,
    Tam cang, huynh đệ, hữu bằng năm phe,
    Thảo, ngay, chồng bảo vợ nghe,
    Anh em yêu mến bạn bè thiệt tin .
    1. TRUNG : Làm quan trung với triều đình,
    Quên nhà vì nước, quên mình vì dân,
    Công bình chẳng vị tư ân,
    Xứng ngôi chức phận, vẹn phần thanh liêm .
    Còn như dân dã trọn niềm :
    Lo xong xâu thuế, giữ nghiêm luật điều .
    Gìn lòng trung tín mến yêu,
    Không lời phạm thượng, giữ điều tôn quân .
    Khuyên người noi đạo Ngũ -luân,
    Sửa nền phong hoá, dạy lần ngu ngoan .
    2. HIẾU : Cha con đứng giữa tam cang,
    Đạo làm cha mẹ, dạy đàn trẻ thơ .
    Đừng cho hoang đảng bạc cờ,
    Nông thương nghề nghiệp, thi thơ học hành .
    Cưng hư thời uổng công sanh,
    Dạy nên là việc tu hành với con .
    Làm con chữ hiếu vuông tròn,
    Một lo thi đỗ, tông môn rỡ ràng .
    Hai lo thần tĩnh mộ khan,
    Giàu ra công khó, nghèo càng dưỡng nuôi,
    Kính thờ cha mẹ đồng vui,
    Hết lòng hết sức, lo nuôi lo đền .
    Thần mình cha mẹ gầy nên,
    Giữ cho toàn vẹn, như đền cù lao .
    3. HÒA : Thứ ba chồng vợ làm sao ?
    Chồng ra xử thế, vợ vào tề gia .
    Giàu nghèo cũng ở thuận hoà,
    Xướng tuỳ phải đạo, vào ra giữ lời .
    Phần chồng dạy vợ ở đời,
    Làm dâu vẹn thảo, đãi người trọn ân .
    Bạn dâu hòa thuận mười phần,
    Bà con yêu dấu, xa gần ngợi khen,
    Lòng chồng chớ ở bạc đen,
    Nhan sắc là hèn, đức hạnh là hơn .
    Chớ mê tiếng quyển tiếng đờn,
    Cũ vong mới chuộng, đèn hơn trăng lờ .
    Đàn bà giữ vẹn một thờ,
    Tháng đợi năm chờ, chồng chúa vợ tôi .
    Kinh chồng, hiền đức vô hồi .
    Sắt cầm hoà thuận, đắp bồi gia cang .
    4. ĐỄ : Thứ tư huynh đệ yêu đương,
    Ấy là chữ đễ, cũng ngang chữ hoà .
    Thịt xương một chỗ mà ra,
    Anh dầu bị khổ, em đà chẳng an .
    Em may anh nở lá gan,
    Anh mà đau nhức, em càng xót xa .
    Anh em yêu mến thuận hoà,
    Mẹ cha đẹp ý, ông bà mát gan .
    Mồ côi càng chạnh trăm đàng,
    Nhìn xem thủ túc, mơ màng xuân huyên .
    Thương anh như mến cha hiền,
    Nếu phiền huynh đệ, như phiền mẹ cha .
    Anh em ai dẫu bất hòa,
    Bị người đánh chửi, cũng ra binh liền .
    Bởi vì thiên hiệp tự nhiên,
    Anh em cha mẹ căn nguyên tại trời .
    Trời xanh không thế đổi dời,
    Khó tìm cha mẹ, không rời anh em .
    Vợ, con, người chọn mắt xem,
    Nối đây dễ quá, sanh thêm khó gì ?
    Ấy là nhơn hiệp lạ chi,
    Chớ khinh huynh đệ mà vì vợ con .
    Mẹ cha anh chị vuông tròn,
    Anh em bực nhứt, vợ con bực nhì .
    5. TÍN : Thứ năm bằng hữu trọn nghì .
    Giúp giùm sửa lỗi, yêu vì khuyên nhau .
    Nội nhà ngộ biến lòng đau,
    Có khi bằng hữu giúp nhau được toàn .
    Việc nhà khó nỗi trở đang,
    Có khi bằng hữu giúp cang đặng hòa .
    Vậy nên chỉ tín đừng ngoa,
    Càng lâu càng mặn, rán la rán giùm
    Chọn người tài đức yêu dùng,
    Khuyên lơn làm phải, chung cùng giúp nhau
    Năm điều vẹn giữ trước nhau
    Tu ròng ngũ đạt, đạo mầu nhứt tâm
    Năm điều giữ vẹn chẳng lầm .
    Thì là hành đạo phải tầm kiếm đâu ?
    Trẫm đà truyền đủ đạo mầu,
    Người khuyên thiên hạ rán tu cho thành,
    Ấy là chánh phép tu hành,
    Tại gia cũng đủ bao đành xuất gia .
    Gái trai lớn bé trẻ già,
    Sang hèn giàu khó đều là phải tu .
    Gồm tam giáo : Thích, Đạo, nhu (nho),
    Ai tu cũng đặng người tu thời thành .
    Làm người tùy sức tu hành,
    Cảnh nào cũng vậy lòng lành bấy nhiêu .
    Tuy giàu, nhưng khó chẳng kiêu,
    Dầu nghèo như khá, chẳng điều gian hung,
    Ở đời biết xét hay dung,
    Trị nhà nhẫn nhịn, đủ dùng tu thân,
    Sự nào mình phải mười phần .
    Xét ra còn lỗi một phân sửa liền .
    Việc chi người quấy cả thiên,
    Tìm ra lẽ phải không phiền chấp chi .
    Siêng làm ra của khó gì,
    Biết lo tiện tăn, mấy khi nghèo nàn .
    Gốc là Hiếu Đễ giữ ràng,
    Thảo cha kính mẹ, yêu đang ruột rà .
    Ở đời phương tiện mới là,
    Người lo chẳng tiện, ta thà giúp phương .
    Làm lành là gốc thiên đường,
    Tùy cơ bố thí chánh phương tu hành .
    Trọn đời như vậy là lành,
    Công đầy quả đủ thì thành chẳng ngoa .
    An chay niệm Phật thêm lòa,
    Bằng không cũng đặng theo khoa thánh thần .
    Tự -Kỳ còn ngại tâu rằng :
    ‘ Khó bề bố thí, vì thân nghèo nàn ! ‘
    Tần -quảng -vương phán rõ ràng,
    ‘ Nhiều phương bố thí, lắm đàng tế nhân .
    Trừ ra túng ngặt cơ bần,
    Mình đành thí của, cứu lần gian nguy .
    Chớ như đói khát một khi,
    Bữa cơm bát nước, tốn gì bao nhiêu ?
    Người đời lo sợ chít chiu,
    Mình khuyên bớt ngại cũng đều tế nhân .
    Người mê lầm lỗi cõi trần,
    Mình khuyên tu niệm đặng phần siêu thăng .
    Giúp điều phương tiện bủa giăng,
    Ra công, mỏi miệng, cũng bằng thí thiên .
    Người gây tụng, kẻ thù riêng .
    Giải hòa thôi kiện, răn khuyên hết rầy .
    Tuy nghèo thương chúng chẳng khuây,
    Cũng là bố thí lựa chi có tiền ‘
    Tự Kỳ còn ngại tâu liền :
    Sãi gọi tu thiền, niệm Phật ăn chay ‘.
    Đức vua Tần Quảng phán ngay :
    ‘ Bày ra niệm Phật ăn chay sửa lòng
    Ăn chay không ích Thế tôn (Thích -ca).
    Công chi với Phật, mà hòng ỷ chay ?
    Dẫu cho niệm Phật đêm ngày,
    Ích chi cho chúng, rằng hay tu hành ?
    Phép tu gốc tại làm lành,
    Đừng vương việc dữ thời thành xưa nay
    Dẫu cho niệm Phật ăn chay,
    Tránh làm lành dữ, tội đày đọa sâu .
    Mới giam mấy sãi chẳng lâu,
    Hòa thượng khẩn cầu, niệm Phật ăn chay !
    Lòng chẳng tịnh, tánh không ngay,
    Đời niệm Phật, ròng chay cũng cầm .
    Ngũ luân tu nhứt chẳng lầm,
    Chay bố thí, niệm thầm thứ hai
    Trí tại tâm, chẳng tại tài,
    Lòng chay khó lắm, miệng ngoài có chi
    Một đồng nhà khó thí đi,
    Phước ấy dám bì giàu thí một phiên
    Giàu sang một bữa chay tuyền,
    Cũng bằng nhà khó chay liền một trăng .
    Vì suy chỗ khó làm căn,
    Khó mà làm đặng, thiệt bằng lòng tu ‘.
  • GIÁC MÊ DIỄN CA
  • Từ mở mang trời đất những nay,
    Cũng có cuộc tang thương canh cải .
    Ngươn ba ngươn tuần huờn dựng lại .
    Hội mười hai cho đủ mới rằng .
    Cõi hồng trần còn hỡi lăng xăng,
    Người lành phải chịu bề cay đắng,
    Chữ tam đạt thì lòng phải gắng,
    Muốn lên bờ phải thác bến mê,
    Học Phật gia niệm chữ từ bi,
    Tu tiên đạo giữ câu cảm ứng .
    Trung thứ này cho là bằng chứng,
    Phật Thánh Tiên tam giáo một lòng,
    Dọn chông gai đường cả mới thông,
    Chịu tân khổ gọi là thượng trí
    Người trượng phu phải gìn tam qui,
    Đứng anh hùng đừng bỏ cửu tư,
    Đạo tiên thiên lập đảnh an lư,
    Hạng cũng có trong hư ngoài thiệt .
    Tánh tòng bá phải y một tiết,
    Nếu đổi dời khổ đọa trầm -luân .
    Nhắn với ai qui giới phải tuân,
    Một phen khổ muôn đời thong thả,
    Nợ tiền khiên buổi nầy phải trả,
    Nợ trả rồi vật ngoại thảnh thơi
    Mặc dầu trong trời đất vui chơi,
    Năm hồ rộng thần tiên thú lạ .
    Muốn nên mình phải bền chí cả,
    Công cho dày thì quả mới cao .
    Dốc lòng đền chín chữ cù lao,
    Hành chánh đạo dương danh hậu thế .
    Ấy vậy mới tứ ân bất phế .
    Hỡi đạo người đừng bỏ nghĩa nhơn,
    Làm sao cho tiệp thủy đăng sơn .
    Chữ Hầm cốc cùng ông Tương -Tử,
    Công danh lợi thì mình phải xử .
    Cuộc phù hoa nhắm cũng cheo leo,
    Tần -Thỉ -Hoàng tiếng hỡi còn nêu,
    Thâu lục quốc phàn sơ khanh sĩ,
    Núi Thú -dương Di -Tề danh để .
    Giữa một lòng tiết nghĩa mà thôi,
    Làm chi Tần -Ngụy cao ngôi,
    Thanh sử tạc muôn đời cho tệ .
    Đậu yên sơn ngũ chi đơn quế,
    Bởi vì chàng cải quá tự tân,
    Người đời lấy đức tu thân,
    Đừng học thói vua Tần mà bất nghĩa,
    Trắc ẩn chi tâm tùng thiên lý,
    Nỡ lòng nào giết vật cho đành .
    Người úy tử vật lại tham sanh,
    Gẫm người vật máu xương không khác .
    Thấy thửa sống không đành thửa thác,
    Lời Mạnh -kha sách để hẳn hòi,
    Xin hiền lương xét lại mà coi,
    Sao là phải, sao là chẳng phải .
    Sách có câu quá nhi tất cải,
    Tử -Lộ xưa nghe lỗi thì mừng,
    Võ -Vương làm thiên hạ chi quân,
    Còn phải văn thiện ngôn tắc bái,
    Nói ra thì tai nghe cũng trái,
    Bởi vì nhơn sự cách thiên cơ .
    Việc thị phi tai phải làm ngơ,
    Học Nhan -tử đai cơm bầu nước .
    Đạo muốn cao tỏ đường sau trước,
    Cách chỉ mành nào có xa đâu .
    Cõi nam đà mở rộng cửa lần,
    Đèn trí huệ hào quang chói chói,
    Thuyền bát nhã nghinh ngang bốn biển .
    Nước ma ha rửa sạch ba lòng,
    Rượu Quỳnh hoa mời khách tây đông .
    Ngựa không bóng rước người Nam Bắc,
    Máy sau lưng xảy bày trước mặt .
    Nửa hông nồi nấu khắp non sông .
    Muốn cho thấy đặng chủ nhơn ông,
    Non vô ảnh âu tâm mới hãn,
    Trong hang thần đừng cho gián đoạn,
    Độc mộc kiều có gã Quỳnh nương,
    Cõi nê hoàn mua rượu Quỳnh tương
    Đặng một chén uống thời bất lão,
    Việc tu hành phải suy mùi đạo .
    Nếu bơ thờ quả vị khó trông,
    Tiếng đờn thì tai lóng cho thông,
    Chơn như thể giai không ngũ uẫn,
    Thập tam ma khuyên đừng lấp lửng,
    Gươm huệ mài trừ nó mới an,
    Giảng cho thông tứ cú kim -cang,
    Thời mới thấy bổn lai diện mục,
    Tuy sắc thân hỡi còn ở tục,
    Lòng cho riêng mới gọi là thần,
    Ai còn mang những thói tham sân,
    E khó nỗi luân hồi lục đạo,
    Hoạ phước vô môn nhơn tự triệu,
    Muốn hi hiền phải liễu phàm tâm,
    Đạo Như-Li vô thượng thậm thâm,
    Biển cho lặng minh châu mới hiện,
    Ngọc cửu khúc gắng công giồi huyện,
    Tầm thư hùng hái nước non nam .
    Mười hai giờ quyền hộ phải tham,
    Thiên giao thời pháp luân thường chuyển .
    Rồng trên non cọp kia xuống biển .
    Đầy ba xe chở những vàng ròng,
    Làm sao rằng lôi phục thiên phong .
    Buôn sáu hiệp thâu vào lại gắn .
    Thuốc ba phẩm công phu luyện chính
    Muốn đơn thành văn võ phải toan,
    Ai dốc lòng đến núi linh san
    Đóng sáu cửa cho bền then khóa .
    Cửu cửu ma thử lòng vàng đá .
    Ấy mới rằng biết giả biết chơn .
    Thầy Huyền -Trang tiệp thủy đăng sơn .
    Trái tám mối Lôi Âm mới tới .
    Lòng Bồ -đề không dời không đổi .
    Tánh yêu ma còn tiếc nhục phòng,
    Bởi chưng qui gới chưa thông .
    Căn duyên nợ năm dây khó dứt,
    Đạo muốn cao phải bồi chí đức,
    Đạo đức toàn quỉ phục thần khâm .
    Trời đâu có phụ đạo tâm,
    Nghiệm kim cổ người lành mắc nạn .
    Việc tu hành phải soi cho rạng,
    Nếu không minh ắt chẳng đốc hành,
    Đạo Phật Tiên có chí thì thành,
    Người bao thuở thủy cầu chung đãi .
    Nương phép thuyền mà qua khổ hải .
    Sóng muôn trùng còn đoái làm chi .
    Bền một lòng niệm chữ A-di
    Sau cũng đặng thảnh thơi muôn kiếp .
    Máy quang âm lẹ thoi như nhíp,
    Người trăm năm chẳng khác chiêm bao .
    Cõi bờ này sóng bủa lao xao,
    Cuộc danh lợi gẫm như bọt nước,
    Đọc sách kinh nhớ người đời trước .
    Ông Thạch -Sùng giàu có muôn xe .
    Qua đời này tiếng hỡi còn nghe,
    Sao chẳng thấy mặt trường sanh thọ hưởng .
    Hàn -Tín xưa là mưu thần chi tướng .
    Cũng chưa nên mười mặt phô trương,
    Người ở đời lấy đó mà răn,
    Kim như thị cổ hà như thị .
    Xử thế phải biết liêm biết sĩ,
    Tu thân thời vô lự vô tư,
    An một lòng mau ốc thảo lư .
    Đừng học thói Triệu Tần mộ Sở .
    Đường Huỳnh -Đạo trời đà rộng mở .
    Khách Tây -du sớm nhớ quày đầu .
    Kiếp duyên khương sáu vạn dư niên,
    Dưng thiên mạng kíp truyền y-bát .
    Sông Ai-hà khuyên người kíp thoát .
    Khỏi lưới trần cực lạc cũng xinh .
    Cuộc diêm -phù nhiều nỗi nhục vinh .
    Không lại có, giàu sang dời đổi .
    Thú thảnh thơi màu thoàn quen dõi .
    Đất Bồ -đề sớm tối xuê-xoang .
    Chữ Danh lợi, sao bằng chữ nhàn .
    Cửa Bát nhã vào ra thong thả .
    Trống Đại Hùng đà thâu ý mã .
    Chuông linh sơn hỡi toả tâm duyên .
    Ngọc mu ni há dễ khinh truyền .
    Kinh Bạch tư dám đâu vọng triết .
    Địch không lỗ có duyên mới biết .
    Đờn không dây vô phước khó nghe .
    Rượu đề hồ chứa để đầy ve .
    Say một cuộc bất tri nhơn sự .
    Ngâm chỉ huyền say cùng ông Lữ .
    Đọc tỉnh mê say với ông La .
    Kim huỳnh -đình rảnh đọc năm ba .
    Vô bồng tháp buồn xem tạo hóa .
    Ngó Nam lãnh vui màu tòng bá,
    Nhìn Bắc Hà rùa cá lội vởn vơ .
    Chốn Đơn phòng tỏ nỗi huyền cơ .
    Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ .
    Có duyên gặp tam kỳ phổ độ .
    Muôn đời còn Tử phủ nên danh,
    Ba ngàn công quả đặng viên thành,
    Đơn thơ chiếu hiển vinh thiên tước .
    Chín phẩm sen vàng khai thấy Phật .
    Cữu huyền thất tổ đặng tiêu diêu .

    THẬP NGOẠT CA

    Hiệu đề thập ngoạt hoài thai,
    Tam niên nhủ bộ ai ai cho tường .
    Kể ra mỗi việc trăm đường,
    Nghe thời phải gắng cho thường chớ sai .
    Dặn dò già trẻ gái trai,
    Tưởng ơn cha khổ, nhớ hoài mẹ lao .
    Trước thưa anh chị nhậm ngôn,
    Sau cùng thiện tín bát phương đạo tình .
    Khá ăn chay niệm Phật tụng kinh,
    Tuân qui giới đền ơn thiênđịa
    Người trượng phu phải gìn chữ nghĩa .
    Đứng anh hùng trung hiếu đừng sai .
    Anh đừng quên thập ngoạt hoài thai,
    Chị phải nhớ tam niên nhủ bộ .
    Lòng tưởng tới cửu huyền thất tổ .
    Dạ khăng khăng báo bổ song thân .
    Làm sao cho báo đáp tứ ân .
    Lo những cứu tam đồ chi khổ .
    Ơn phụ mẫu sanh con quá khổ .
    Mẹ đặt con vào dạ thêm lo .
    Chín tháng trường chẳng dám ăn no .
    Năm canh ấy ngủ không ngon giấc .
    Chưn mẹ không rời dưới đất,
    Dạ cưu mang lật đật dám đâu .
    Tưởng chừng nào lụy nhỏ thâm bâu,
    Chạnh nhớ đến ruột đau từ đoạn .
    Việc sanh đẻ mẹ đà xuất hạng .
    Tán loạn lo sanh tử không chừng .
    Vì chậm sổ thời cha vái tưng bừng,
    Bằng trì huỡn phụ vào bái tử .
    Chốn ô uế đứng trong giường cữ,
    Cúi đầu chờ con sổ cho mau .
    Đến bây giờ phải nghĩ trước sau .
    Ơn nghĩa ấy tương rau cũng đáng .
    Huyết ô trì mẹ nằm một tháng,
    Bởi vì con, thịt nát dạ càng,
    Trên thời vầy nồi nước vung thang,
    Nơi phía dưới lửa vây hừng hực .
    Chịu cay đắng mẹ không than cực,
    Đạo làm con phải nhớ sanh thành .
    Thập ngoạt đà nhứt tử nhứt sanh,
    Tam niên ấy ốm gầy mình mẹ .
    Nuôi con trẻ không cho tiếng khóc,
    Hễ khóc lên lật đật chạy quay
    Công mẹ rày giặt rửa liền tay .
    Vì con trẻ bao nài khai thúi .
    Mới ngon giấc ỉa ra lụi hụi,
    Cha đốt đèn mẹ lại rửa trôn .

  • MƯỜI -CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH, TƯỢNG PHẬT
  • * Một là, những tội lỗi đã tao từ trước, nhe thì được tiêu từ . nàng thì chuyền thành nhe .
    * Hai là, thường được các thiên thần ùng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù,
    * Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này .
    * Bốn là, các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc hùm beo tránh xa không dám hảm hại .
    Năm là, tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộnh . Diện mạo hiền sáng, mạnh khoẻ an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt .
    * Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ gia đình hoà thuận, phước lộc đời đời .
    * Bảy là, lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen .
    * Tám là, ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khoẻ, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt . Nhâm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân .
    * Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy .
    * Mười là, hay vỉ tất cả chúng sanh trồng các cân lành . Lấy tâm cầu của chúng sinh làm ruộng phước điền cho mình . Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng . Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Phép, phước huệ rông lớn, chúng đạt lục thông, sớm thành Phật quả .

    ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY :

    Ấn tống Kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ tặt bịnh, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ Đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc .

    ẤN TỐNG KINH

    Chúng con góp lòng thành Tâm Ấn Tống 1000 cuốn Kinh Nhơn Quả, Nghiệp và Luân Hồi để cầu an và cầu siêu.

    Nam Mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật
    Nam Mô a Di đà Phật .
    Nam Mô đương lai hạ sanh di lặc Tôn Phật .
    Nam Mô Quang Thế Âm Bồ Tát .

    Cầu An

    Nguyện cầu hồng ân tam bảo . Thế giới Hoà Bình an lạc thịch vượng và Gia Hộ toàn thể thân bằng quyến thuộc Nội Ngoại, Ông Bà Cha Mẹ, Cô Chú Dì Dượng, Anh Chị Em con cháu Thân Tầm thường an lạc, Bồ đề tâm tân trưởng, Tu hành kinh tiến .

    Cầu Siêu

    Cầu nguyện Hồi hướng công đức đến bảy đời phụ mẫu và tất cả Chư Vong Linh đồng bào tử nạn khắp cõi hoàn cầu được siêu sanh tịnh độ .

    Nam Mô đại nguyện địa Tạn Vương bồ tát Ma Ha Tát .

    CÁC NGÀY KỶ NIỆM
    (Tính theo Âm-lịch)

    THÁNG GIÊNG

    Ngày 1.- Vía đức Di-Lặc .
    22.- Tổ Thập -Tháp (Phước -Huệ,chứng -minh Đạo sư Hội
    Phật -giáo Trung-Phần) viên tích .
    23.- Tổ Khánh -Anh (Thượng -thủ Giáo -hội Tăng-Già toàn
    quốc V.N. niên khóa II . Pháp -chủ Gióa -hội Tăng -già
    V.N. niên khóa II) viên tịch 30.

    THÁNG HAI :

    Ngày 8.- Vía Phật Thích -Ca xuất -gia .
    15.- Vía Phật Thích -Ca nhập – diệt .
    19.- Vía Phật Quán -Thế -Âm Bồ -Tát .
    20.- Vía Đức Phổ -Hiền Bồ -Tát .

    THÁNG BA :
    Ngày 16.- Vía Đức Chuẩn -Đề Bồ -Tát .

    THÁNG TƯ :

    Ngày 3.- Tổ Tuệ -Tạng (Thượng -thủ Giáo -hội Tâng già toàn
    quốc V.N. niên khóa I) viên tịch .
    04.- Vía Đức Vân -Thù Bồ Tát .
    15.- Vía Phật Thích -Ca Giáng -sanh .
    20.- Bồ Tát Thích Quảng -Đức vị pháp thiêu thân
    (nhằm 11-6-1963). 20.-

    THÁNG SÁU :

    Ngày 15.- Đại -Thích -Nguyên-Hương vị pháp thiêu thân
    (nhằm 4-8-1963).
    19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -Tát .
    19.- Tổ Khánh -Hòa (Sơ-tổ Phong-trào Chấn -hưng
    Phật giáo miền Nam) viên tịch .
    24.- Đại -đức Thích -Thanh-Tuệ vị pháp thiêu thân
    (nhằm 15-8-1963).
    26.- Thích -nử Diệu -Quang vị pháp thiêu thân
    (nhằm 15-8-1963).
    27.- Đại -đức Thích -Tiêu -Diêu vị pháp thiêu thân
    (nhằm 16-8-1963).

    THÁNG BẢY :

    Ngày 13.- Vía Đức Đại -Thế -Chí Bồ -tát .
    15.- Lễ Vu -Lan Bồn .

    30.- Vía Đức Địa -Tạng Bồ -tát .

    THÁNG CHÍN :
    Ngày 02.- Đại đức Thích -Quãng -Hương vị pháp thiêu thân
    (nhằm 5-10-1963).
    11.- Đại đức Thích -Thiện -Mỹ vị pháp thiêu thân
    (nhằm ngày 27-10-1963).
    19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -tát .
    30.- Vía Phật Dược -Sư .

    THÁNG MƯỜI MỘT :

    Ngày 01.- Tổ Huệ -Quang (pháp chủ G.H.T.G.N.V. niên khóa I)
    viên tịch .
    07.- Vía Phật -A-Di-Đà .

    THÁNG CHẠP :

    Ngày 08.- Vía Phật Thích -Ca thành đạo .
    08.- Tổ Vĩnh -Nghiêm (Thiên-gia Pháp -chủ Giáo hội Tăng -
    già BV) viên tịch .

    NHỮNG NGÀY TRAI

    Thập trai : Mổi tháng mười ngày :
    Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 .
    (nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27).
    Lục trai : Mổi tháng sáu ngày :
    Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 .

    Tứ trai : Mỗi tháng bốn ngày :

    Mồng 1, 14, 15, 30 .

    Nhị trai : Mỗi tháng hai ngày :
    Mồng 1, 15 .

    Tam ngoạt trai : Một năm ba tháng :
    Tháng giêng, tháng bảy, tháng mười .

    *** Những ngày trai không nên dùng các món
    gia-vị như : hành, hẹ, nên, tỏi, tổi tây v.v…

    *** Người tu hành ăn các món này thì tụng kinh
    trì chú không linh nghiệm và khiêu gợi dục tình,
    sanh thêm các tánh hung dữ .

About these ads
This entry was posted in THAM KHAO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s