Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du
học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức, du học Úc,

(LĐ) – Chủ nhật 10/07/2011 07:30

Từ năm 2000 đến cuối năm 2010 là giai đoạn bùng nổ du học Úc với số lượng sinh viên Việt Nam đăng kí các khóa học tại Úc tăng gấp gần 7 lần và đạt mức 25.788 du học sinh.

Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút
Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút

Bối cảnh hội nhập

Trong giai đoạn 2000-2006, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm. Cũng trong thời kì này, xu hướng cho con đi du học nước ngoài đã trở nên phổ biến với các gia đình khá giả.

Theo Bộ GD-ĐT Việt Nam, nếu như trong những năm 1997-1998, khi phong trào du học bắt đầu phát triển và Anh, Pháp, Mỹ là những quốc gia được du học sinh Việt Nam lựa chọn nhiều nhất thì cho đến giai đoạn kể từ năm 2000 trở đi, thị trường du học đã thay đổi nhiều với những điểm đến như Úc, New Zealand, Anh, Mỹ, Singapore và Thụy Sĩ.

Phần lớn sinh viên Việt Nam sang Úc du học theo diện tự túc nhưng bên cạnh đó, vào tháng 4/2000, chính phủ Việt Nam đã xây dựng Đề án “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322) và cấp học bổng du học cho các nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách và doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó còn có một số lượng nhỏ sinh viên nhận được học bổng của các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học cũng góp phần khiến cho bức tranh du học Úc thêm phong phú.

Một yếu tố khác không thể không nhắc đến là sự đóng góp lớn lao của Chính phủ Úc trong việc giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế nói chung và giáo dục nói riêng. Nhân dịp đánh dấu kỉ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Úc-Việt (bắt đầu từ năm 1973), Ngoại trưởng Úc lúc bấy giờ, ông Alexander Downer, đã tuyên bố chương trình tài trợ trị giá 263 triệu đô-la Úc cho Việt Nam trong vòng 4 năm, trong đó có giai đoạn 2001-2002, nhằm tập trung cải thiện hệ thống y tế, cơ sở hạ tầng và tiếp tục viện trợ giáo dục thông qua các chương trình Học bổng Phát triển Úc vốn đã được Cơ quan phát triển Quốc tế Úc (AusAID) triển khai từ năm 1992.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến năm 2006, số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam sang Úc học tập là 6.772 người, tăng gấp 1,5 lần năm 2000. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên theo học các khóa tiếng Anh (ELICOS) cũng tăng lên 45.8% (đạt 1637 người), nhóm đối tượng học nghề tăng 29,8% (đạt 1089 sinh viên). Đặc biệt trong giai đoạn này, tổng số học sinh sang Úc học trung học đã tăng lên 51.6% và đạt 2907 người vào năm 2006.

Bước ngoặt với thị trường du học

Kể từ năm 2007, mối quan hệ hợp tác song phương Úc-Việt đã ngày càng củng cố và được nâng lên tầm cao mới, trở thành “Đối tác toàn diện” vào tháng 9/2009. Trong diễn tiến đó, vào năm 2010, chính phủ Úc công bố mỗi năm tổ chức AusAID sẽ cung cấp cho các sinh viên Việt Nam 225 Học bổng Phát triển (nay gọi là “Học bổng Australia vì sự Phát triển của Việt Nam” (ASDiV), tăng 50 % so với năm 2008. Thêm vào đó, Việt Nam cũng sẽ nhận được khoảng 15 Học bổng Năng lực lãnh đạo Australia (ALA) dài hạn và 40 học bổng ALA ngắn hạn. Hiện Việt Nam là nước đứng thứ ba về số lượng sinh viên được nhận học bổng ASDiV của Úc.

Cho tới giai đoạn gần đây nhất vào ngày 25/1/2011, Úc và Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề. Trong chuyến công du Việt Nam vào ngày 13/4/2011 vừa qua, Ngoại trưởng Kevin Rudd đã cam kết Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc cải cách giáo dục bậc cao thông qua việc cung cấp học bổng và các khóa đào tạo. Ngoài ra, theo kế hoạch viện trợ của Úc, cho tới năm 2015, AusAID sẽ cung cấp tổng cộng khoảng 1680 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam.

Những nguyên nhân đó đã khiến cho số lượng du học sinh Việt Nam sang Úc học tập gia tăng rất mạnh mẽ kể từ năm 2007 tới nay. Cho đến năm 2009, thứ bậc xếp hạng của Việt Nam đã tăng đáng kể và chỉ xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan và Nepal. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2011 đã có tổng số 17.651 sinh viên Việt Nam đăng kí nhập học.

Trào lưu mới: di dân du học

Trong nỗ lực góp phần vào dòng chảy du học, không thể không nhắc đến sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ thông tin với tốc độ từ 15-20% và “gần như là số 1 trong khu vực” (theo lời ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Vì vậy, khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia đã ngày càng thu hẹp lại và du học không còn là một điều quá to tát đối với các “công dân toàn cầu” tương lai ở đất nước này. Ngoài ra, còn phải nhắc đến một số nhân tố khác như sự thương mại hóa giáo dục, sự phát triển của các hình thức tín dụng du học tại Việt Nam, sự mở rộng các hình thức liên kết giáo dục bán du học Việt-Úc…

Về phía các sinh viên, một số lý do chính khiến họ lựa chọn du học Úc là vì bằng cấp được quốc tế công nhận, môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.

Trong những năm qua, Úc rất mở cửa trong chính sách nhập cư và thường quảng bá du học gắn liền với việc có thể dễ dàng xin được thường trú Úc (PR – Permanent Residency) để định cư lâu dài tại đất nước chuột túi. Điều này đã góp phần khiến cho lượng sinh viên sang Úc du học tăng nhanh chóng, đặc biệt là đội ngũ sinh viên học nghề như làm tóc, làm bánh, nấu ăn, quản lý nhà hàng, khách sạn, thợ cơ khí… vì đây là những ngành nghề nước Úc thiếu hụt lao động. Từ năm 2000 đến cuối năm 2010, số du học sinh Việt Nam theo học các khóa nghề ở Úc đã tăng gần 9 lần.

Với việc cắt giảm danh sách ngành nghề ưu tiên (để xin PR) của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) vào tháng 5/2010, số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tuy đã có sự sụt giảm nhưng không nhiều (khoảng 4,5%) trong năm này.

Tuy nhiên, vào ngày 11/11/2010, chính sách di trú của Úc lại một lần nữa thay đổi, theo đó, những sinh viên muốn xin PR phải đáp ứng nhu cầu cao hơn về tiếng Anh và kinh nghiệm làm việc. Trước sự thay đổi này, có nhiều ý kiến cho rằng PR chỉ còn là một “giấc mơ xa vời” với phần lớn sinh viên quốc tế.

Nước Úc và cuộc chơi mang tên PR 

Có thể nói rằng trong giai đoạn từ năm 2000-2008, nước Úc rất cởi mở trong chính sách nhập cư và việc quảng bá du học Úc thường được gắn liền với định cư nhằm thu hút sinh viên quốc tế. Điều này đã khiến cho không ít sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam, có cơ hội xin được thường trú lâu dài – PR (Permanent Residency) và trở thành công dân Úc.

Tuy nhiên, trong khoảng hai năm trở lại đây, luật PR của Úc liên tục thay đổi. Từ một đất nước mở cửa thu hút lao động nhập cư đến từ các quốc gia khác dưới thời Thủ tướng John Howard, Chính phủ Úc dưới thời Thủ tướng Kevin Rudd và gần đây là Julia Gillard đang dần đóng chặt cánh cửa nhập cư.

Trước đây, để xin được PR thì du học sinh phải có đủ 120 điểm theo cách tính của Bộ Nhập cư và Quốc tịch Úc – DIAC dựa trên cơ sở bằng cấp, độ tuổi, trình độ tiếng Anh… Bên cạnh đó, những sinh viên có ngành học nằm trong Danh sách Ngành nghề nhập cư có nhu cầu cao tại Úc – MODL (Migration Occupations on Demand List) sẽ được cộng thêm điểm ưu tiên.

Tuy nhiên, vào ngày 8/2/2010, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Chris Evans thông báo bãi bỏ MODL và không lâu sau đó, vào tháng 5/2010, DIAC cắt giảm Danh sách các Ngành nghề ưu tiên (Skilled Occupation List – SOL), từ 408 ngành nghề xuống chỉ còn 181 ngành.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước khởi đầu của chiến lược cải cách nhập cư của chính phủ Úc.

Quyết tâm cải cách chính sách nhập cư

Điểm nổi bật nhất của luật PR mới là mặc dù để có thể đủ điều kiện nộp hồ sơ PR, các ngành học của sinh viên vẫn phải nằm trong SOL nhưng hiện nay, SOL không còn được sử dụng làm cơ sở để tính điểm như trước nữa. Đây là một trong những nỗ lực của chính phủ nhằm tách rời hơn nữa chính sách du học và định cư với lí do “chính sách nhập cư của Úc không thể bị quyết định bởi các khóa học của sinh viên quốc tế” theo tuyên bố của Thượng nghị sĩ Chris Evans, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc vào năm 2010.

Chính sự buông lỏng quản lí của Chính phủ Úc trong lĩnh vực giáo dục đã dẫn đến thực trạng là mặc dù trong những năm vừa qua có một số lượng lớn sinh viên quốc tế xin được PR theo diện tay nghề nhưng rất nhiều người trong số đó lại không thể tìm được việc làm đúng chuyên ngành vì chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động Úc.

Với sự thay đổi luật PR có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2011, chính phủ Úc đã thể hiện quyết tâm cải cách chính sách nhập cư. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc thay đổi chính sách di trú theo chiều hướng thắt chặt hơn sẽ càng khiến cho Úc bị thiếu hụt trầm trọng lao động lành nghề trong tương lai.

Sinh viên quốc tế “khóc ròng”

Chính sách di trú mới đưa ra những yêu cầu cao hơn rất nhiều đối với các ứng cử viên xin PR, theo đó ưu tiên nhóm đối tượng có trình độ cao, đặc biệt là tiến sĩ (được cộng 20 điểm), cử nhân hoặc những người có cả bằng cử nhân và thạc sĩ (15 điểm).

Luật PR mới cũng ưu tiên cho những ứng cử viên trong độ tuổi từ 25-32 bởi thống kê của Cục Thống kê Úc (ABS) cho thấy nhóm lao động nhập cư nằm trong độ tuổi này mang lại lợi ích nhiều nhất cho nền kinh tế Úc. Hơn nữa, những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc tại Úc và 8 năm tại các nước khác cũng có nhiều lợi thế trong việc được cộng thêm điểm.

Bên cạnh đó, một trong những thay đổi gây ra thách thức lớn nhất cho sinh viên quốc tế là việc DIAC nâng cao yêu cầu về điểm tiếng Anh IELTS, theo đó, chỉ có những người đạt 7 điểm IETLS trở lên (không có kĩ năng nào dưới 7) thì mới được cộng thêm điểm.

Không phải đến tận bây giờ chính sách nhập cư của Úc mới thay đổi mà trước đây Bộ Nhập cư và Quốc tịch nước này cũng từng khẳng định chắc chắn rằng: “Luật di trú sẽ liên tục thay đổi theo thời gian”.

Và xem ra giấc mơ mang tên PR sẽ vẫn còn như một trò đuổi bắt với các sinh viên quốc tế…

(Theo bayvut số ra ngày 7 và 8.6.2011)

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-ky-1/20242.bld

Posted in PHUONG PHAP | Leave a comment

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du
học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức, du học Úc,

(LĐ) – Chủ nhật 17/07/2011 07:30

Sự thắt chặt chính sách nhập cư của chính phủ Úc đã có tác động tiêu cực tới không chỉ ngành công nghiệp giáo dục của nước này mà còn với cả các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Tài chính là một trong những nỗi lo âu bậc nhất của cả các bậc phụ huynh lẫn du học sinh Việt Nam. (ABC News: Gary Rivett)
Tài chính là một trong những nỗi lo âu bậc nhất của cả các bậc phụ huynh lẫn du học sinh Việt Nam. (ABC News: Gary Rivett)

Ngành công nghiệp giáo dục bạc tỉ đi xuống

Có thể nói sự thay đổi chính sách di trú liên tục của Chính phủ Úc trong vòng hai năm trở lại đây là một phần nguyên nhân khiến cho số lượng sinh viên quốc tế sang quốc gia này sụt giảm, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nghề.

Trong một bài phỏng vấn, ông Tony Pollack, Tổng giám đốc Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (IDP), cũng nhận định rằng việc Chính phủ Úc thắt chặt nhập cư là một phần nguyên nhân gây ra sự sụt giảm này. Bên cạnh đó, việc này cũng tác động đến doanh thu của ngành giáo dục nói riêng và sự phát triển kinh tế của Úc nói chung do sự thiếu hụt lao động lành nghề trong tương lai.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến trước khi luật PR thay đổi vào năm 2009, tổng số sinh viên quốc tế tại Úc là 631.935 người. Cũng trong giai đoạn 2000-2009, số lượng sinh viên đăng kí các khóa học nghề tại Úc đã gia tăng đáng kể, từ 30.759 sinh viên vào năm 2000 lên gấp hơn 7,5 lần (tương đương 232.475 sinh viên) vào năm 2009.

DIAC cũng cho biết các ngành nghề có sức hấp dẫn lớn nhất đối với sinh viên quốc tế là ngành thực phẩm và quản lí khách sạn. Trong năm 2009, số sinh viên đăng kí hai ngành học này đã tăng lên tới 30%.

Tuy nhiên, sau khi chính sách PR mới theo chiều hướng thắt chặt nhập cư được công bố vào giữa năm 2010 thì tính đến cuối năm này, tổng số sinh viên quốc tế đăng kí các khóa học tại Úc giảm chỉ còn 619.119 sinh viên. Tính đến tháng 12/2010, số sinh viên quốc tế học nghề tại Úc đã giảm 26.000 sinh viên (tương đương với 11%) so với cùng kì năm 2009.

Sinh viên Việt Nam trước sự thay đổi

Sinh viên Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung. Trước đây, có rất nhiều sinh viên Việt Nam chọn học nghề bởi việc sở hữu chứng chỉ nghề có thể giúp họ dễ dàng xin được PR.

Hiện nay, sinh viên Việt Nam sang Úc  chỉ đạt mức 8,5% trong giai đoạn 2009-2010 so với con số 65% của thời kì đỉnh điểm bùng nổ du học từ 2007-2008 và 49,9% từ năm 2008-2009.

Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI) đã nhận định rằng một trong những lí do khiến cho số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tăng vọt trong những năm vừa qua là do “ngày càng có rất nhiều sinh viên Việt Nam muốn có được PR để định cư lâu dài tại Úc”. Vì vậy, sự thay đổi liên tục chính sách nhập cư của Úc vào năm 2010 có tác động lớn tới sự lựa chọn các khóa học của sinh viên Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

Liệu đã hết “cửa” PR?

Trước sự thay đổi liên tục theo chiều hướng ngày càng thắt chặt của luật PR, một câu hỏi được đặt ra là: “Phải chăng sinh viên quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng đã hết “cửa” ở lại Úc?”

Trước câu hỏi trên, DIAC cho biết các sinh viên quốc tế vẫn còn “cửa” cuối cùng là sau khi tốt nghiệp có thể tìm công ty bảo lãnh visa việc làm (loại visa 457) và sau khi làm việc hai năm sẽ có thể xin được PR.

Ưu điểm của hình thức này là danh sách các ngành nghề do công ty bảo lãnh thường nhiều hơn so với những ngành được quy định trong Danh sách các Ngành nghề Ưu tiên (SOL) nếu sinh viên nộp đơn xin PR theo dạng thông thường. Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì đây cũng là một trong những giải pháp khó khăn nhất, chỉ có những ứng cử viên nào thật sự nổi trội về trình độ cộng với may mắn thì mới có thể nhận được sự bảo lãnh của các doanh nghiệp Úc.

Ngoài ra, các sinh viên quốc tế cũng có thể tính đến phương án nộp hồ sơ xin bảo lãnh theo Chương trình Bảo lãnh Di dân tại các vùng xa xôi, hẻo lánh của nước Úc (RSMS) hoặc xem xét khả năng xin bảo lãnh của chính quyền tiểu bang để ở lại làm việc nếu đủ điều kiện.

Luật sư Tạ Quang Huy, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Di trú MPA, thành viên Ban Chấp hành – Liên đoàn Di trú Úc, cho biết thêm: “Du học sinh vẫn có khả năng gia tăng cơ hội xin PR bằng cách xin học tại các vùng sâu, vùng xa, học thêm các khóa chuyên nghiệp (Professional Year) đối với một số ngành, hoặc xin visa ngắn hạn (TR) để đi làm lấy thêm kinh nghiệm sau khi học xong. Ngoài ra, còn một “cửa” khác là các em có thể mở doanh nghiệp tư nhân để hoạt động rồi sau đó sẽ xin PR theo dạng doanh nhân”.

Tuy nhiên những trường hợp xin được PR theo tư vấn của ông Huy là khá hiếm hoi và nhìn chung, “cánh cửa” PR dường như chỉ còn lại một khe cực nhỏ.

Hoàn cảnh đáng buồn và sự nghịch lý 

Có một nghịch lý là người Việt vẫn muốn đưa con em họ sang Úc du học bất chấp tình hình có nhiều khó khăn như hiện nay.

Nhiều phụ huynh ở Việt Nam đã, đang hoặc sắp gởi con em mình sang Úc du học đều “choáng váng” trước sự tăng giá của đồng đôla Úc kể từ cuối năm 2009.

Nếu như ở giai đoạn suy thoái kinh tế vào thời điểm đầu năm 2009, 1 đôla Úc đổi được 11 ngàn đồng Việt Nam thì vào thời điểm hiện nay, tháng 6.2011, 1 đôla Úc đổi được 22 ngàn đồng Việt Nam.

Đó cũng là nỗi lo âu của nhiều cha mẹ Việt Nam có con du học tự túc ở Úc hiện nay.

Hồi đầu năm 2010, ông Lê Chính, giảng viên một trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh và có con em du học tự túc ở Úc, vẫn còn tỏ ra khá bình thản về vấn đề tài chính – kể cả khi đô la Úc tăng giá – vì gia đình ông đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Thế nhưng cho đến nay thì cả hai ông bà đều bày tỏ sự lo lắng không yên. “Nếu đôla tiếp tục lên giá trong khi đồng Việt Nam tiếp tục mất giá như tình hình hiện nay, chúng tôi chưa biết phải đối phó ra sao”.

Anh chị Phong và Huyền, người có con vừa sang Melbourne hồi đầu tháng 4/2011 học ngành Kinh doanh tại trường RMIT, cho hay theo tính toán trước đây, với mức học phí là 20.000 đôla Úc/năm, anh chị phải chi khoảng 300 triệu đồng tiền học phí/năm. Tuy nhiên, với mức đôla Úc cao giá hiện nay, anh chị phải chi tới khoảng 450 triệu đồng/năm cho con.

Nói theo lời bà Thu Hằng, một phụ huynh có con trai đang học tại Đại học La Trobe (Melbourne), thì cha mẹ ở Việt Nam hiện chỉ kiếm được “bạc lẻ” trong khi phải chi cho con du học bằng “bạc chẵn”.

Giá sinh hoạt ở Úc leo thang

Nỗi éo le ở chỗ, trong khi “bạc lẻ” ở Việt Nam ngày càng khó kiếm và lại mất giá thì ở Úc, các du học sinh Việt buộc phải chi tiêu “bạc chẵn” ngày một nhiều hơn, tốn kém hơn.

Trần Hùng, sinh viên du học tại Melbourne, cho biết căn hộ anh cùng với vài người bạn ở chung cách nay 2 năm giá gần 1.000 đôla/tháng thì nay đã lên 1.200 đôla/tháng và “còn có thể tăng nữa”.

Mặc dù giá cả tại Úc không tăng mạnh như giá cả ở Việt Nam nhưng theo Chỉ số Giá tiêu dùng (Price Index) do Văn phòng Thống kê Úc công bố tình hình giá cả ở Úc cũng có một số thay đổi.

Từ tháng 3/2010 tới tháng 3/2011, giá thực phẩm ở Úc tăng 4,3%, rượu và thuốc lá tăng 11,2%, giá nhà tăng 4,8%, giá vận chuyển tăng 4,1%, giáo dục tăng 5,9%…

Trong thời gian này chỉ có một vài mặt hàng là giảm giá chút đỉnh như quần áo và giày dép giảm 1,3%, phương tiện giải trí giảm 1,5%, đồ đạc gia dụng trong nhà và dịch vụ giảm 0,5%…

Khi du học sinh Việt mất “cả chì lẫn chài”

Mặc dù ở Úc ít người thất nghiệp, nhưng đối với đa số du học sinh quốc tế thì việc kiếm được việc làm thêm trong thời gian du học không hề là điều dễ dàng.

Chính vì vậy mà nhiều phụ huynh ở Việt Nam thừa nhận nếu như trước đây nỗi lo hàng đầu của họ là con cái đi học xa nhà sẽ hư hỏng, thì nay “nỗi lo lớn lao” không kém chính là sức ép về tài chính.

Bà Thu Hằng cho biết hiện con trai bà ở Melbourne đang phải “gồng mình” với hai gánh nặng là vừa đi học vừa kiếm tiền. Bà cho hay: “Chỉ sợ cháu không kham nổi sẽ “gẫy” cả hai. Biết là vậy nhưng không thể giúp cháu hơn được”.

Thực tế đã có du học sinh Việt “gẫy cả hai” bởi không vượt qua được những khó khăn ở Úc. Nói cách khác là họ mất “cả chì lẫn chài”.

Anh Lê, một du học sinh tại Úc, là người đã phải nghỉ học giữa chừng vì gia đình không còn khả năng hỗ trợ tài chính.

Cách nay ba năm, từ Việt Nam, Lê lên đường sang Úc để học kế toán. Khi đó cuộc đời là cả một màu hồng đối với anh và gia đình.

Ước mơ du học rất lớn của Lê nhận được sự hỗ trợ hoàn toàn của gia đình anh. Dù gia đình Lê cũng chỉ đủ ăn nhưng viễn cảnh về một tương lai xán lạn khi trở thành tài đã khiến Lê mạnh dạn lên đường dù biết rõ cha mẹ chỉ có thể lo đủ tiền học cho anh vào năm đầu tiên.

Thời gian đầu mọi việc diễn ra tương đối thuận lợi, Lê rất chăm chỉ làm việc, vừa làm bồi bàn ở nhà hàng, vừa bán hàng ở chợ và tự trả được sinh hoạt phí. Nhờ thế cha mẹ Lê không phải gởi tiền từ Việt Nam sang giúp đỡ con mình.

Tuy nhiên vào năm học kế tiếp, vì sức người và thời gian đi làm có hạn, dù xoay sở vất vả và bươn chải với thực tế khó khăn của cuộc sống, Lê vẫn không kiếm đủ tiền trả học phí. Cha mẹ anh phải vay mượn hơn 100 triệu đồng gởi sang cho anh để trả tiền học phí.

Sự việc ngày càng trở nên u tối hơn khi tới học kỳ cuối, Lê thi trượt tới 3 trên tổng số 4 môn học, nguyên do chính vì anh đã phải đi làm thêm quá nhiều nên không đủ thời gian lên lớp và học tập.

Các khoản sinh hoạt phí cộng với số tiền học lại (2000 đôla/môn) trở nên quá nặng nề đối với khả năng của anh và gia đình. Bản thân Lê đã “đầu hàng” không thể lo nổi. Trong khi đó, gia đình anh ở Việt Nam cũng quá “đuối sức”, không còn khả năng nên Lê đành phải bỏ học giữa chừng.

Lê cho hay anh sẽ quay trở lại Việt Nam kiếm tiền với ước vọng một ngày kia quay trở lại Úc để hoàn thành giấc mơ dang dở. Tuy vậy, những người biết chuyện đều cảm thấy ước nguyện này của Lê là khá xa xôi.

Như chúng tôi đã nêu ở đầu bài viết này, có một điều nghịch lý là bất chấp bối cảnh kinh tế xã hội cả Việt Nam lẫn Úc đều có nhiều thay đổi (hầu hết là theo chiều khó khăn hơn trước đây), các bậc cha mẹ và du học sinh đều than phiền về những trở ngại khi du học Úc hôm nay… thế nhưng lượng sinh viên Việt Nam tới Úc du học vẫn không suy giảm.

Chỉ riêng ba tháng đầu năm 2011, tổng cộng 17.651 sinh viên Việt đã đăng ký nhập học tại các đại học trên khắp nước Úc.

Tình trạng nghịch lý này phải được lý giải ra sao và còn kéo dài đến bao giờ?

(Theo Bayvut số ra ngày 9 và 14.6.2011)

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-Khi-mieng-banh-nhap-cu-khong-con/2429.bld

Posted in PHUONG PHAP | Leave a comment

CÔNG QUÁ CÁCH L’index des mérites et des démérites

CÔNG QUÁ CÁCH
L’index des mérites et des démérites

Bản dịch của Léon WIEGER S.J. (1856-1933), in trong:

Histoire des croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine depuis l’origine, jusqu’à nos jours

[Imprimerie de Hien-hien, Première édition, 1917.]

oOo

[1] A l’égard des parents.

Être avec eux amiable, doux et gracieux, un mérite pour un jour. — Les sa­luer matin et soir, un mérite par jour. — Se bien conduire et bien travailler pour leur faire plaisir, un mérite par jour. — Se fatiguer pour eux, un mérite chaque fois. — Recevoir humblement une réprimande, un mérite. — Leur donner un con­seil profitable, trois mérites. — Les apaiser ou les consoler, trois mérites. — Dépenser libéralement pour eux, trois mérites. — Les exhorter discrètement à s’a­mender, dix mérites. — Leur apprendre à bien agir, dix mérites. — Réparer une faute, ou payer une dette de ses parents, dix mérites. — Aimer et estimer ceux que les parents aiment et estiment, dix mérites chaque fois. — Soigner et veiller ses parents malades, trente mérites. — S’affliger sincèrement de leurs souffrances, cinquante mérites. — Leur procurer une bonne réputation, cinquante mérites. — Faire leurs funérailles avec soin, cinquante mérites. — Supporter des parente fâcheux, cent mérites. — Convertir des parents vicieux, cent mérites, — Ne pas différer leur enterrement, cent mérites. — Constituer un pécule qui leur assure des offrandes annuelles, mille mérites par cent pièces de cuivre du capital placé.

Priver les parents de postérité, en ruinant son corps par la débauche, ou en se faisant exécuter pour crime, cent démérites. — Avantager sa femme et ses en­fants, au détriment de ses parents, cent démérites. — Ensevelir ses parents à la hâte et sans soin, cent démérites. — Différer longtemps leurs funérailles définiti­ves, cent démérites. — Ne pas donner aux parents malades les soins nécessaires, cinquante démérites. — Divulguer une faute des parents, cinquante démérites. — Ne pas les avertir de leurs défauts, trente démérites. — Leur apprendre à mal agir, vingt démérites. — Se mettre en colère contre eux et les brutaliser, vingt démérites. — Mépriser ou maltraiter une personne que les parents aiment et esti­ment, dix démérites. — Manifester du dégoût pour les parents vieux et infirmes, dix démérites — Faire maudire ses parents, par manière de représailles, par un homme dont on a maudit les parents, dix démérites. — Ne pas faire part de ses biens à ses parents, dix démérites. — Disputer avec eux sur des questions de pro­priété, dix démérites. — Leur faire des reproches, dix démérites. — Leur faire mauvais visage, dix démérites. — Leur faire de la peine, dix démérites. — Leur causer de la fatigue, dix démérites. — Sortir, en les laissant seuls à la maison, quand ils sont vieux, dix démérites. — Leur manquer une fois, dix démérites. — Les traiter sans respect et sans égards, un démérite chaque jour. — Manger ou boire sans leur offrir une part, un démérite chaque fois.

[2] A l’égard des frères.

Nota : Pour le bien fait à un frère né d’une autre mère (dans une famille po­lygame), chaque mérite est doublé. Pour les frères nés d’autres parents (c’est-à-dire pour les cousins, qui s’appellent en Chine frères), le mérite est triplé.
Estimer et aimer un frère, et se fatiguer pour lui, un mérite. — Coopérer sin­cèrement avec lui, un mérite. — L’exhorter à bien agir, l’empêcher de mal faire, dix mérites. — Ne pas ajouter foi aux rapports de sa femme, ou d’un domestique, contre son frère, dix mérites. — Ne pas se disputer entre frères, sur les affaires courantes, dix mérites. — Ne pas tirer à soi les biens communs, dix mérites. — Faire les frais de la noce ou des funérailles d’un frère, cinquante mérites. — Cé­der de son droit, lors du partage des biens, cinquante mérites. — Reprendre chez soi un frère qui s’est ruiné, cent mérites. — Bonifier ses frères par son bon exem­ple et ses exhortations, cent mérites.

Désunir la famille, s’intenter des procès entre frères, cent démérites. — Maltraiter ou outrager un petit frère, cent démérites. — Ne pas secourir un frère dans l’infortune, cent démérites. — Détourner un frère de bien faire, l’induire à mal agir, cinquante démérites. — Se disputer un profit entre frères, dix démérites. — Prêter l’oreille aux insinuations des femmes ou des domestiques, dix démérites. —Rebuter un frère moins fortuné, qui demande à emprunter, dix démérites. — Jalouser un frère plus fortuné, deux démérites par jour. — Montrer mauvais ca­ractère, un démérite. — Ne pas donner le nécessaire à ses cadets, un démérite chaque fois. — Tirer à soi plus que ce à quoi l’on a droit, un démérite par cent sapèques de valeur. — Se taire quand on voit un frère mal agir, un démérite. — Mal parler d’un frère devant les étrangers, un démérite.

Nota : Il n’est pas question des sœurs, car elles ne sont pas considérées comme étant durablement de la famille. On les marie le plus tôt possible, et elles n’héritent pas.

[3] Règles de l’épouse et des concubines.

Garder la retraite et la modestie, un mérite pour un jour. — Avertir celle qui serait en faute, un mérite chaque fois. — Bien gouverner les concubines de rang inférieur, un mérite. — Empêcher qu’une femme ou fille n’aille flâner dehors, dix mérites. — Exhorter une jeune femme à respecter ses beaux-parents, et à vivre en bonne intelligence avec ses belles-sœurs, cinquante mérites. — Lui ensei­gner à se bien conduire, cent mérites.

Répudier son épouse, parce qu’on est devenu riche et noble, cent démérites. — Tolérer que sa femme manque à ses beaux-parents, cent démérites. — Mieux trai­ter une concubine que son épouse en titre, cent démérites. — Souffrir qu’une de ses femmes en tyrannise une autre, trente démérites. Mal recevoir les justes re­montrances de son épouse, dix démérites. — Permettre à ses femmes de flâner, dix démérites. — Permettre qu’elles se disent des injures obscènes, cinq déméri­tes. — Tolérer qu’une marâtre maltraite les enfants de l’épouse défunte, un démérite. — Souffrir des discordes dans son harem, un démérite par jour.

[4] Règles des pères et des oncles.

Pour chaque bon avis donné, un mérite. — Pour chaque mal interdit, dix mérites. — Pour chaque larcin empêché, trente mérites. — Pour chaque enseignement sur la piété filiale et l’union familiale, trente mérites. — Pour chaque progrès moral qu’on a fait faire à ses fils ou à ses neveux, cent mérites.

Ne pas leur enseigner les devoirs essentiels, cent démérites. — Les empêcher d’étudier, cinquante démérites. — Induire en erreur un enfant, cinquante démé­rites. — Abuser d’un innocent, trente démérites. — Leur laisser prendre une mauvaise habitude, trente démérites. — Leur donner un mauvais exemple, dix démérites. — Manifester une préférence déplacée pour quelqu’un de ses enfants, dix démérites. — Les injurier et les battre au lieu de les former, deux démérites.

[5] Règles des disciples et des amis.

Révérer son Maître et mettre en pratique ses enseignements, un mérite pour un jour. — Se lier avec de sages amis, et entretenir ces liaisons, un mérite par jour. — Leur faire part de ses ressources, un mérite par 200 sapèques. — Repous­ser les sollicitations de mauvaises compagnies, un mérite chaque fois. — Prendre part aux joies et aux peines de ses amis, un mérite chaque fois. — Tenir les promesses qu’on leur a faites, un mérite chaque fois. — Remettre dans le droit chemin un ami qui dévie, dix mérites. — Ne pas rompre avec ses anciens amis pauvres, alors qu’on est devenu riche, trente mérites. — Conserver pieusement la mémoire de ses amis défunts, trente mérites. — Secourir un ami dans un besoin pressant, cent mérites.

Refuser d’aider un ami, alors qu’on pourrait le faire, cinquante démérites. — Refuser à un ami qui meurt, ou qui part pour un voyage, de protéger sa femme et ses enfants, cinquante démérites. — Oublier son maître, ou un ami mort, ou un ami devenu pauvre, cinquante démérites. — Rompre sans raison avec un ancien ami, vingt démérites. — Critiquer son Maître, sa personne ou sa doctrine, dix démérites. — Céder à un ami qui sollicite au mal, trois démérites. — Manquer à la promesse faite à un ami,un démérite.

[6] Règles relatives aux serviteurs et aux servantes.

Leur fournir libéralement la nourriture et les vêtements nécessaires, un mérite par jour. — Les encourager et les consoler dans leur labeur, un mérite chaque fois. — Leur pardonner une petite faute, deux mérites. — Les bien soigner quand ils sont malades, vingt mérites. — Marier entre eux deux de ses esclaves, vingt mérites. — Doter et marier au dehors une de ses esclaves, trente mérites. — Rendre gratis à ses parents un enfant esclave, un mérite par cent sapèques de sa valeur vénale. — Donner à ses serviteurs quelque éducation morale, cent mérites.

Forcer ses esclaves au célibat, cent démérites. — Estropier un ou une esclave, cent démérites. — Vendre une esclave à qui en abusera certainement, cent démé­rites. — Mal marier un serviteur ou une servante, vingt démérites. — Châtier injustement, vingt démérites. — Gronder injustement, trois démérites. — Les bru­taliser, cinq démérites. — Ne pas leur donner le nécessaire, un démérite par journée.

[7] Charité envers les hommes.

Recueillir quelqu’un qui n’a aucun appui, un mérite pour chaque jour. —Donner à manger à un affamé, un mérite. — Donner à boire à dix altérés, un mérite. — Donner un vêtement à celui qui est nu, un mérite par cent sapèques de la valeur. — Prêter une lanterne, un mérite. — Prêter un parapluie, un mérite. — Donner gratis un médicament, un mérite. — Porter à destination une lettre, sans la lire en cachette, un mérite. Faire l’aumône à un pauvre, un mérite par cent sapèques. — Rapatrier des voyageurs, un mérite par cent sapèques des frais. — Réunir des époux séparés, un mérite par cent sapèques des frais. — Donner à un mendiant une soupe chaude en hiver, un mérite. — Aider, pour une noce, pour des funérailles ; un mérite par cent sapèques. — Contribuer à la construction ou à l’entretien d’un pont, d’une route, d’une digue ou d’un puits, un mérite par cent sapèques. — Faire ensevelir un cadavre gisant, un mérite par cent sapèques des frais. — Donner un bol de bouillie, en temps de famine ou de cherté, deux mé­rites. — Secourir un malade en cas d’épidémie, deux mérites. — Aider à racheter un condamné, deux mérites par cent sapèques. — Donner à un vagabond l’hospi­talité pour une nuit, deux mérites. — Donner un bon conseil, trois mérites. — Guérir une petite plaie, trois mérites. — Enterrer un os qui traîne, dix mérites. — Protéger la santé ou la vie de quelqu’un, dix mérites. — Aider autrui dans son travail, dix mérites. — Empêcher un avortement, vingt mérites. — Sauver quelqu’un d’un châtiment, vingt mérites. — Guérir quelqu’un d’une maladie grave, trente mérites. — Faire l’aumône d’un cercueil, trente mérites. — Permettre d’enterrer un indigent dans sa terre, trente mérites. — Secourir une veuve ou un orphelin, trente mérites. — Faire rendre justice à un opprimé, trente à cent mé­rites, selon le cas. — Sauver quelqu’un d’un grand malheur, cinquante mé­rites. — Sauver une petite fille destinée à la noyade, cinquante mérites. — Amender ou bonifier un pauvre diable, cinquante mérites. — Prendre à sa charge les funérail­les d’un indigent, cinquante mérites. — Sauver une vie humaine, cent mérites. — Pourvoir à la perpétuation d’une famille, en moyennant une adoption, cent mé­rites. — Marier deux personnes qui n’ont pas les fonds nécessaires, cent mérites. — Recueillir un enfant abandonné, cent mérites. — Réunir des époux séparés et leurs enfants dispersés, cent mérites. — Procurer à une famille pauvre un avantage notable, cent mérites.

Tuer un homme, cent démérites. — Ruiner quelqu’un, cent démérites. — Noyer une fille, cent démérites. — Causer l’extinction d’une famille, cent démérites. — Pervertir ou corrompre quelqu’un, cent démérites. — Attenter au cimetière d’une famille, cent démérites. — Violer une sépulture, cent démérites. — Empêcher ou défaire un mariage, cent démérites. — Préparer un poison, cent démérites. — Pres­crire à un malade une potion, qui fera gagner le pharmacien, mais qui ne profitera pas au malade, cent démérites. — Ne pas sauver quelqu’un d’un péril, alors qu’on peut le faire, cinquante démérites. — Conseiller ou approuver la pratique de no­yer les filles, cinquante démérites. — Conseiller ou approuver la pratique de l’a­vortement, cinquante démérites. — Nuire à une famille par haine, cinquante démérites. — Obliger quelqu’un, par une fausse inculpation, à errer en fugitif, cin­quante démérites. — Jeter n’importe où des ossements humains déterrés dans son champ, cinquante démérites. — Aplanir et faire disparaître une tombe enclavée dans son terrain, cinquante démérites. — Endommager les moissons sur pied d’au­trui, trente démérites. — Endommager un pont, un bac, un puits commun, trente démérites. — Faire châtier quelqu’un injustement, trente démérites. — Ne pas secourir une veuve ou un orphelin dans la détresse, alors qu’on le peut, trente démérites. — Ne pas disculper quelqu’un qui est faussement accusé, alors qu’on le peut, trente démérites. — Étant médecin, mal soigner un malade, vingt démé­rites. — Ne pas venir en aide à un malheur quelconque, vingt démérites.— Ne pas donner un bon conseil, ne pas indiquer un bon moyen, alors qu’on le peut, dix démérites. — Insulter un vieillard, un homme difforme ou estropié, un enfant, dix démérites. — Se réjouir et chercher à profiter du malheur d’autrui, dix démé­rites. — Empêcher durant un jour le passage dans une ruelle, sur un bac, sur un pont, dix démérites. — Réprimander quelqu’un qui n’est pas coupable, trois démé­rites. — Lire furtivement une lettre adressée à un autre, trois démérites. — Mal gérer les affaires d’autrui, dont on a la charge, trois démérites. — Intimider, effra­yer quelqu’un, trois démérites. — Rebuter le pauvre qui implore assistance, deux démérites. — Appeler quelqu’un par son petit nom (ce qui est en Chine signe de mépris), deux démérites.

[8] Charité envers les animaux.

Sauver la vie à un animal inutile, un mérite. — Sauver la vie à un insecte, un mérite. — Nourrir convenablement les animaux domestiques, un mérite par jour. — Ensevelir une bête morte, un mérite. — Soulager une bête qui souffre, un mérite. — Racheter et libérer de petites bêtes captives, un mérite par cent sa­pèques dépensées. — Ne pas manger de viande durant un an, cinq mérites. — Sauver la vie à un animal utile, dix mérites.
Conseiller de tuer, ou dissuader de libérer un animal, cent démérites. — Tuer, pour la manger, une grande bête, cent démérites. — Tuer une autre bête utile, vingt démérites. — Tuer une bête inutile, trois démérites. — Tuer un insecte, un démérite. — Enfumer un terrier, détruire un nid, trois démérites. — Encager un oiseau, un démérite. — Ne pas avoir pitié d’une bête qui souffre, un démérite.

[9] Bonnes œuvres et mauvaises actions en général.

Quiconque enseigne à autrui à bien agir, aura, à chaque bonne action que fera l’autre, un mérite égal à la moitié du sien, — Quiconque encourage ou aide autrui à bien faire, aura, à chaque bonne action que fera l’autre, un mérite égal au quart du sien. — Exhorter autrui à contribuer de son argent à une bonne œu­vre, un mérite par trois cents sapèques. — Faire imprimer et répandre de bons livres, un mérite par cent sapèques. — Donner un exemplaire d’un traité de mo­rale populaire, dix mérites. — Travailler à faire réussir une bonne entreprise, dix mérites. — Exhorter une famille au bien, trente mérites. — Publier les bonnes œuvres d’un homme de bien, trente mérites. — Quiconque fonde une école pu­blique, aura trente mérites par élève qui y passera. — Convertir un homme au bien, cinquante mérites. — Promouvoir une œuvre d’utilité publique, cent méri­tes. — Répandre les biographies des hommes dont la vertu fut héroïque, mille mérites.
Empêcher l’enseignement du bien, cent démérites. — Dénigrer un homme de bien, cinquante démérites. — Faire manquer une bonne entreprise, cinq déméri­tes. — Ne pas encourager, ne pas aider, quand on le peut, cinq démérites. — Taire les mérites des méritants, cinq démérites. — Être cause que quelqu’un continue à croupir dans ses vices, cinq démérites. — Exalter des hommes de mauvaise vie, ou louer de mauvaises doctrines, cinq démérites.
Apaiser une dispute, trois mérites. — Éteindre une inimitié, cinq mérites. — Accommoder un procès, cinq mérites. — Détruire en le brûlant un mauvais livre, dix mérites. — Empêcher une conversation sur les femmes et les filles, dix méri­tes. —Stigmatiser la coutume de noyer les filles, trente mérites. — Prévenir un crime, trente mérites. — Prêcher la concorde, cinquante mérites. — Enseigner la piété filiale, cent mérites.

Quiconque enseigne à autrui à mal faire, encourra, à chaque mauvaise action de l’autre, un démérite double du sien. — Quiconque encourage ou aide autrui à mal faire, encourra le même démérite que s’il avait fait lui-même la mauvaise action. — Attiser la discorde, pousser à un litige, cent démérites. — Patronner un jeune garnement, lui permettant de mal faire, ou lui assurant l’impunité, cent déméri­tes. — Faire graver, ou imprimer, ou répandre un mauvais livre, cinquante démé­rites. — Rédiger ou écrire des pièces pour un procès injuste, cinquante déméri­tes. — Écrire un acte de divorce, cinquante démérites. — Recommander une personne indigne, trente démérites. — Apprendre à qui ne les connais pas, des procé­dés immoraux, trente démérites. — Fréquenter un homme vicieux, dix démérites chaque fois. — Ne pas éclairer quelqu’un qui agit mal par ignorance, un déméri­te. — Ne pas consoler un affligé, un démérite.

[10] Règles relatives aux sentiments intérieurs.

Balayer (sic) une mauvaise pensée aussitôt qu’elle commence à poindre, un mérite. — Se bien conduire toujours, même en secret, un mérite pour une journée. — Ne rien faire qui excite de mauvaises pensées, un mérite pour une journée. — Considérer le bien et le mal d’autrui comme le sien propre, dix mérites. — Avoir passé tout un mois à faire le bien sans mal faire, cent mérites en plus des autres, comme prime de la constance.
Choyer de mauvaises pensées durant tout un jour, trente démérites.— Vou­loir du mal à autrui, dix démérites. — Se réjouir des fautes d’autrui, dix démé­rites. — Refuser de croire à la vertu d’autrui, deux démérites. — Tourner et re­tourner (sic) avec complaisance une pensée impure, un démérite à chaque fois. — Item, pour un ressentiment intérieur ; et en général pour toute pensée mauvai­se. Ne pas repousser les distractions mentales, tandis qu’on récite des textes ou des prières, un démérite chaque fois.

[11] Règles relatives aux actes extérieurs.

Bien faire son devoir durant tout un jour, un mérite. — Agir par devoir, non pour se faire louer, deux mérites. — S’amender dès qu’on est averti, trois méri­tes. — Imiter un bon exemple, trois mérites. — Ne pas rechercher la faveur des riches et des puissants, cinq mérites. — S’abstenir de toute ambition déraisonnable, vingt mérites. — Céder à un homme qui en est digne, vingt mérites. — Persévérer dans ses bonnes œuvres, jusqu’à leur achèvement, sans se refroidir ni se relâcher, vingt mérites. — Accepter de souffrir un dommage pour le bien d’autrui, cinquan­te mérites. — Vivre en bonne intelligence avec autrui, sans garder mémoire des petites offenses, cent mérites.
Causer du trouble par ses intrigues, cent démérites. — Causer du tort à autrui, pour son propre avantage, cinquante démérites. — Calomnier un homme de gran­de vertu, cinquante démérites. — S’attribuer le bien qu’on n’a pas fait, trente démérites. — Faire ses propres affaires sous couleur de bien public, par exemple s’approprier le produit d’une collecte, dix démérites. — S’obstiner dans un vice, trois démérites. — Laisser une bonne œuvre inachevée, un démérite.— Agir en égoïste, un démérite. — Refuser son approbation à une action louable, un démé­rite.

[12] Règles relatives aux paroles.

Parler avec circonspection, conformément à ses sentiments, un mérite par jour. — Dire une bonne parole qui fait du bien, dix mérites. — Exhorter au bien et détourner du mal, en expliquant les sanctions du bien et du mal, dix mérites. — Démontrer l’innocence d’un accusé, cinquante mérites. — Enseigner un traité de morale, cent mérites.

Faire de faux rapports, cent démérites. — Mal parler des Sages, cinquante démérites. — Divulguer une faute secrète, cinquante démérites. — Jaser sur la conduite des femmes, cinquante démérites. — Semer la discorde, trente démérites. — Tromper, duper, dix démérites. — Mal parler du bien, de la vertu, dix démérites. — Chansonner quelqu’un, cinq démérites. — Plaisanter sur l’air ou les manières de quelqu’un, trois démérites. Aimer à parler des défauts d’autrui, un démérite. — Mentir, un démérite. — Parler de jeu, ou de luxure, un démérite. — Bavarder sans mesure, un démérite.

[1`3] Par rapport aux Génies et aux Sages.

Servir les Génies du ciel et de la terre, et les Ancêtres du temple familial, avec dévotion, un mérite. — Retirer des ordures un papier écrit ou imprimé, et le brûler, un mérite. (L’idée est que, l’écriture étant la plus belle invention des Sages, la profaner, c’est leur manquer.) — Dépenser pour les temples des Génies ou des Sages, un mérite par cent sapèques. Faire graver, imprimer, et répandre leurs écrits, cent mérites.

Critiquer les Sages ou leurs écrits, cent démérites. — Porter atteinte à un temple, cinquante démérites. — Détruire un livre canonique, vingt démérites. — Outrager les Génies ou les Ancêtres, vingt démérites. — Citer des textes canoni­ques, pour plaisanter, dix démérites. — Se parjurer en invoquant le nom des Gé­nies, dix démérites. — Manquer à la décence, en vue de l’un des luminaires céles­tes, trois démérites. (Par exemple uriner tourné vers le soleil ou vers la lune. Les païens chinois évitent cela avec soin.) — Maudire, cracher, uriner vers le Nord (la Grande Ourse, résidence des Génies, trois démérites. — Maculer un papier couvert de lettres, trois démérites. — Souiller l’âtre ou le puits (qui ont leur petit Génie particulier), un démérite. — Toucher un livre canonique avec des mains malpropres, un démérite. — Se lever la nuit tout nu (manquant ainsi de respect aux Génies qui sont peut-être présents), un démérite.

[14] Domaine sur les passions et maîtrise de soi.

Être poli et déférent, un mérite par jour. — N’être pas tenace et opiniâtre, un mérite. — Supporter une contradiction, un mérite. — Réprimer une saillie d’hu­meur, trois mérites. — Supporter patiemment une fatigue, trois mérites. — Pardonner une offense, trois mérites. — Endurer une opposition, cinq mérites. — Supporter un contretemps, un accident, sans maugréer contre le Ciel et contre les hommes, dix mérites.

Se conduire brutalement, grossièrement, cent démérites. — Se disputer à tout propos, trente démérites. — Récriminer, dix démérites. — Grogner à chaque mé­compte, cinq démérites. — Se fâcher et tempêter, cinq démérites. — Humer l’encens de la flatterie, un démérite. — Étant ivre, injurier ou frapper, un démérite.

[15] Des habits, du manger et du boire.

Passer un jour, content du nécessaire, un mérite. — Ramasser des grains tom­bés à terre, un mérite. — Manger ce qui est servi, sans choisir, un mérite.

Désirer mieux que ce qui convient, dix démérites. — Se vêtir au-dessus de sa condition, cinq démérites. — Gaspiller le grain, un démérite. — Excéder dans sa dépense, un démérite.

[16] Des biens et du commerce.

Faire honnêtement son commerce durant une journée, un mérite. — Partager le profit entre associés exactement, un mérite. — Restituer ou payer au jour d’é­chéance, un mérite. — Prêter au voisin dans le besoin, un instrument ou un us­tensile, un mérite. — Reconnaître une dette, un dépôt ; un mérite par cent sapèques. — Mettre le nombre exact, quand on enfile les sapèques en ligatures, un mérite par cent sapèques enfilées. — Payer exactement ses redevances en nature, un mérite par cent sapèques de valeur. — Ne pas trop majorer son grain, une année de disette, un mérite par cent sapèques. — Faire l’aumône convenable au pauvre qui la sollicite, un mérite par cent sapèques. — Ne pas repasser à d’autres le faux argent ou le faux billet qu’on a accepté, mais supporter la perte, un mé­rite par cent sapèques. — Prêter sans exiger d’intérêt, un mérite par deux cents sapèques. — Donner bon poids et bonne mesure, dix mérites. — Ne pas presser un débiteur pauvre, dix mérites. — Aider une famille endettée a rétablir ses af­faires, cent mérites.

Fabriquer du faux argent ou de fausses sapèques, cent démérites. — Dissiper son patrimoine, cent démérites. — Trop presser un débiteur pauvre, cent démé­rites. — Empiéter sur la terre d’autrui, cinquante démérites. Provoquer au­trui à jouer de l’argent, dix démérites. — Tromper au jeu, un démérite par cent sapèques de gain injuste. — Extorquer injustement de l’argent, dix démérites par cent sapèques. — Exploiter la misère d’autrui, dix démérites par cent sapèques du profit fait ainsi. — Vendre son grain trop cher, une année de disette, un démé­rite par jour. — S’adjuger plus que son dû, dans un règlement de compte, cinq démérites par cent sapèques. — Nier une dette ou un dépôt, cinq démérites par cent sapèques. — Obliger quelqu’un, par des menaces, à céder son bien à un prix au-dessous de sa valeur, cinq démérites par cent sapèques gagnées ainsi. — Payer en faux argent, fausse monnaie, faux billets, trois démérites par cent sapèques. — User de faux poids et de fausses mesures, un démérite par cent sapèques de profit injuste. — Voler ou faire tort, un démérite par cent sapèques. — Mal user des dons du ciel, un démérite chaque lois, — S’approprier, à l’insu du propriétaire, fût-ce une aiguille, fût-ce une paille, un démérite.

[17] De la luxure.

Passer un jour et une unit, sans concevoir aucune mauvaise intention, un mérite. — Ne pas lire un livre obscène, ne pas regarder une image indécente, un mérite. — Éviter une entrevue dangereuse, un mérite. — Refuser de se lier avec un homme corrompu, un mérite. — Faire taire une personne qui tient des propos licencieux, trois mérites, — Parler fortement des suites de l’inconduite ; ruine, maladies, et autres ; cinq mérites chaque fois. — Ne pas fixer ses yeux sur une jolie personne, cinq mérites. — Mettre en fuite une personne qui sollicite au mal, cinq mérites. — Chez soi, se conduire décemment avec ses femmes, dix mérites. — A chaque occasion dans laquelle on n’a pas failli, dix mérites, — Respecter les servantes de sa maison, cent mérites. — Respecter une femme dont on aurait pu abuser, cent mérites. — Détruire les planches gravées d’un livre obscène, trois p.588 cents mérites. — Ecrire un traité contre la luxure, trois cents mérites. — Ramener à domicile une femme ou une fille évadée, trois cents mérites. — Passer toute sa vie sans commettre un seul adultère, mille mérites.

Composer un livre licencieux, ou peindre une image obscène, démérite infini. — Causer, par un adultère, l’assassinat ou le suicide d’une femme, mille démérites. — Mettre le trouble dans une famille, par ses galanteries, mille démérites. — Provo­quer un avortement, mille démérites, — Fornication avec une fille, une veuve, une nonne, trois cents démérites. — Adultère avec une femme qui avait été jusque là fidèle à son mari, cent démérites. (Nota, faute moindre que la fornication ; voyez page 223). Adultère avec une femme qui a déjà manqué à la foi conjugale, cinquante démérites. — Abuser par force d’une fille servante, de la femme d’un serviteur, d’une nourrice, cent démérites. — Passer la nuit avec une prostituée, dix démérites. (Nota, beaucoup de païens croient qu’il n’y a pas de péché, la chose étant consentie et payée.) — Ruiner son corps par la débauche, jusqu’à priver ses parents de postérité, cent démérites. — Servir de proxénète à une prostituée, à un sodomite ; entretenir pour le public des chanteuses ou des mignons ; dix démérites pour chaque péché commis par ces gens-là. — Choisir exprès, sur la liste présentée par des comédiens, une comédie licencieuse, dix démérites. — Reluquer une fem­me ou une fille, cinq démérites. — Plaisanter indécemment sur le sexe, cinq démérites. — Chez soi, être trop libre avec ses femmes, cinq démérites. — Ne pas s’abstenir aux jours anniversaires du décès de ses parents, trois démérites. — Garder en sa possession de mauvais livres, de sales images ; un démérite par jour, pour la conservation seulement. — Faire des vers licencieux, un démérite. — Se mettre tout nu, chez soi, pour être plus à l’aise, durant la chaude saison ; un démérite. — Prononcer une parole obscène, un démérite. — Dans les rues, ne pas éviter les femmes et les filles, un démérite chaque fois. — Dire à ses servantes de sales injures, un démérite chaque fois.

Posted in THAM KHAO | Leave a comment

DỊCH THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH [11]

IV. DỊCH THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH [11]

1/ ĐỐI VỚI CHA MẸ [41 điều, 20 công – 21 quá].

CÔNG: Thương yêu hoà nhã với cha mẹ (mỗi ngày một công). Sớm tối hỏi han sức khoẻ (mỗi ngày một công). Khéo cư xử và lao động tốt để cha mẹ vui lòng (mỗi ngày một công). Tận tụy với cha mẹ (mỗi lần một công). Khi cha mẹ la rầy, khiêm cung lắng nghe, mà không cãi lại (1 công). Khuyên cha mẹ một điều ích lợi (3 công). Xoa dịu, an ủi cha mẹ (3 công). Chi tiêu rộng rãi cho cha mẹ (3 công). Dè dặt kín đáo khuyên cha mẹ sửa lỗi (10 công). Khuyên cha mẹ hành thiện (10 công). Thay mặt cha mẹ mà sửa chữa một lầm lỗi hoặc một món nợ (10 công). Yêu quí những gì cha mẹ yêu quí (một lần 10 công). Chăm sóc và canh chừng giấc ngủ khi cha mẹ bệnh (30 công). Chân thành chia sẻ sự khổ não của cha mẹ (50 công). Làm rạng rỡ danh tiếng cho cha mẹ (50 công). Chu đáo lo việc tang ma cha mẹ (50 công). Chịu đựng khi cha mẹ [vốn là người nóng nảy] buồn bực cáu giận (100 công). Hoán cải cha mẹ cải ác vi thiện (100 công). Không trì hoãn việc mai táng cha mẹ (100 công). Ấn định một khoản tiền dự trữ để cúng giỗ cha mẹ hằng năm (1000 công cho mỗi 100 đồng bỏ ra).

QUÁ: Khiến cha mẹ không có con cháu nối dõi tông đường bằng cách tự hủy hoại thân thể do trụy lạc hoặc bị hành hình do phạm tội (100 quá). Làm lợi cho vợ con nhưng gây tổn hại cho cha mẹ (100 quá). Khâm liệm cha mẹ vội vã qua loa (100 quá). Trì hoãn quá lâu việc mai táng cha mẹ (100 quá). Khi cha mẹ đau ốm, không quan tâm chăm sóc (50 quá). Biêu riếu tội lỗi cha mẹ (50 quá). Không cảnh báo cho cha mẹ thấy trước điều lầm lỗi (30 quá). Xúi dục cha mẹ làm điều quấy (20 quá). Nóng giận và ngược đãi cha mẹ (20 quá). Khinh bỉ bạc đãi người mà cha mẹ quý trọng (10 quá). Chán ghét ghê tởm cha mẹ già yếu tật nguyền (10 quá). Mắng cha mẹ người khác để rồi cha mẹ mình bị người ta mắng lại (10 quá). Không phân chia tài sản cho cha mẹ (10 quá). Tranh chấp tài sản với cha mẹ (10 quá). Trách móc cha mẹ (10 quá). Mặt sưng mày sỉa với cha mẹ (10 quá). Khiến cha mẹ đau khổ (10 quá). Khiến cha mẹ vất vả khó nhọc (10 quá). Đi xa, để cha mẹ già một mình ở nhà (10 quá). Thiếu sót với cha mẹ (mỗi lần 10 quá). Không kính trọng và không quan tâm cha mẹ (mỗi ngày một quá). Ăn uống không dành phần cho cha mẹ (mỗi lần một quá).

2/ ĐỐI VỚI ANH EM [24 điều, 10 công – 14 quá]

Chú ý: Cư xử tốt với anh cùng cha khác mẹ, mỗi công sẽ được nhân đôi. Cư xử tốt với anh họ, mỗi công được nhân ba.

CÔNG: Yêu thương và tận tụy với anh/em (1 công/1 người). Chân thành hòa hợp và cộng tác với anh/em (1 công/1 người). Khuyên anh/em làm điều thiện, ngăn cản anh/em làm điều ác (1 công). Không nghe lời vợ hay tôi tớ mà nghịch với anh/em (10 công). Không cãi cọ với anh/em về công việc hằng ngày (10 công). Không giành lấy riêng cho mình những tài sản chung trong nhà (10 công). Chịu phí tổn về tang ma/cưới hỏi của anh/em (50 công/1 người). Cưu mang anh/em bị sa sút túng bấn (50 công). Bằng cách nêu gương tốt và khuyên bảo, khiến cho anh/em trở nên tốt đẹp hơn (100 công).

QUÁ: Làm cho gia đình bất hòa, chia rẽ, kiện tụng giữa anh em (100 quá). Bạc đãi và xúc phạm em út (100 quá). Không cứu giúp anh/em lúc khốn khó (100 quá). Cản trở anh/em làm điều thiện, xúi giục làm điều ác (50 quá). Tranh chấp lợi lộc giữa anh em (10 quá). Nghe lời gièm pha của vợ hay tôi tớ mà chia rẽ anh em (10 quá). Hất hủi anh/em kém may mắn đến vay mượn (10 quá). Ganh tị với anh/em may mắn hơn mình (mỗi ngày 2 quá). Tỏ ra thói xấu với anh/em (1 quá). Không cho em những gì em cần (mỗi lần 1 quá). Lấy quá phần của mình lẽ ra được hưởng (giá trị cứ 100 quan thì tính 1 quá). Làm thinh khi thấy anh/em làm quấy (1 quá). Nói xấu về anh/em trước mặt người lạ (1 quá). Chú ý: Không đề cập chị em gái vì họ không ở lâu với gia đình. Các cô con gái được gả đi càng sớm càng tốt. Họ không có quyền thừa kế.12

3/ ĐỐI VỚI THÊ THIẾP 13 [15 điều, 6 công – 9 quá]

CÔNG: Chồng nhường nhịn, khiêm tốn đối với thê/thiếp (mỗi ngày 1 công). Cảnh báo cho họ biết những lỗi lầm (mỗi lần 1 công). Khéo xử để thiếp giữ phận thấp hơn thê (1 công). Cản trở vợ và con gái không cho đi rong chơi khỏi nhà (10 công). Khuyên bảo vợ trẻ biết tôn trọng cha mẹ chồng và sống hòa hợp với chị/em gái của chồng (50 công). Khuyên bảo vợ khéo cư xử (100 công).

QUÁ: Lúc nên danh phận và giàu có thì ruồng rẫy vợ (100 quá). Làm ngơ khi vợ thiếu sót bổn phận với cha mẹ chồng (100 quá). Coi trọng thiếp hơn thê (100 quá). Cho phép vợ này hà hiếp vợ kia (30 quá). Không nghe lời can gián đúng đắn của vợ (10 quá). Cho phép vợ đi rong chơi (10 quá). Để mặc thê thiếp chưởi nhau thô tục (5 quá). Để cho vợ kế hành hạ con của vợ quá cố (1 quá). Để cho thê thiếp bất hòa (mỗi ngày 1 quá).

4/ CHA VÀ CHÚ BÁC ĐỐI VỚI CON CHÁU [13 điều, 5 công – 8 quá].

CÔNG: Giúp con/cháu một ý kiến hay (mỗi lần 1 công). Ngăn cấm con/cháu làm quấy (mỗi lần 10 công). Ngăn cấm con/cháu trộm cắp (mỗi lần 30 công). Dạy con/cháu về đạo đức (mỗi lần 100 công).

QUÁ: Không dạy con/cháu biết bổn phận chủ yếu của chúng (100 quá). Cản trở sự học hành của chúng (50 quá). Xúi trẻ làm quấy (50 quá). Lợi dụng trẻ ngây thơ (30 quá). Dung túng con/cháu tập tành thói hư tật xấu (30 quá). Làm gương xấu cho chúng (10 quá). Con yêu con ghét (10 quá). Chưởi rủa đánh đập con cháu thay vì giáo dục chúng (2 quá).

5/ MÔN ĐỆ ĐỐI VỚI THẦY, BẰNG HỮU ĐỐI VỚI NHAU [17 điều, 10 công – 7 quá].

CÔNG: Tôn kính thầy và thực hành điều thầy dạy (mỗi ngày 1 công). Giao du với bạn tốt và duy trì sự kết giao này (mỗi ngày 1 công). Chia sẻ với bạn những gì mình có (giá trị cứ 100 quan tính 1 công). Gạt bỏ ngoài tai những xúi giục của bạn xấu (mỗi lần 1 công). Chia sẻ vui buồn với bạn (mỗi lần 1 công). Giữ lời hứa với nhau (mỗi lần 1 công). Dẫn dắt bạn về đường ngay lẽ phải (10 công). Khi trở nên giầu có không đoạn giao với bạn cũ thuở hàn vi (30 công). Thành tâm tưởng nhớ bạn quá cố (30 công). Trợ giúp bạn lúc bạn gặp nguy khó (100 công).

QUÁ: Từ chối giúp bạn khi mình có khả năng giúp được (50 quá). Từ chối giúp vợ con của bạn khi bạn qua đời hay đi xa (50 quá). Quên lãng thầy học, bạn quá cố, bạn sa cơ lỡ vận (50 quá). Vô cớ đoạn giao với bạn cũ (20 quá). Phê bình và chỉ trích thầy học về nhân cách và sự giảng huấn (10 quá). Yếu lòng nghe lời bạn xấu xúi dục làm quấy (3 quá). Nuốt lời hứa với bạn (1 quá).

6/ ĐỐI VỚI GIA NHÂN14 [16 điều, 8 công – 8 quá]

CÔNG: Chu cấp rộng rãi thực phẩm và y phục cần thiết cho họ (mỗi ngày 1 công). Động viên và an ủi họ trong công việc (mỗi lần 1 công). Tha thứ lỗi vặt của họ (mỗi lỗi 2 công). Chăm sóc họ lúc họ đau ốm (20 công). Tác thành cho tôi tớ kết hôn với nhau (20 công). Thuận cho tớ gái lấy chồng bên ngoài và cho của hồi môn (30 công). Mua trẻ nô lệ và trả nó về cha mẹ nó mà không đòi hỏi gì hết (cứ 100 quan giá mua tính 1 công). Giáo dục đạo đức cho tôi tớ (100 công).

QUÁ: Buộc tôi tớ phải sống độc thân [mà phục vụ chủ] (100 quá). Tra tấn làm què quặt tôi tớ (100 quá). Bán tớ gái cho kẻ muốn lợi dụng ả (100 quá). Thông dâm với tớ gái (20 quá). Thưởng phạt tôi tớ một cách bất công (20 quá). Vô cớ quát mắng tôi tớ (3 quá). Cư xử tàn nhẫn với tôi tớ (5 quá). Không chu cấp tôi tớ nhu yếu phẩm (mỗi ngày 1 quá).

7/ BÁC ÁI TỪ THIỆN [75 điều, 41 công – 34 quá]

CÔNG: Thu nhận người không nơi nương tựa (mỗi ngày 1 công). Cung cấp thực phẩm cho kẻ bị đói kém (1 công). Cho 10 người khát uống nước (1 công). Cấp y phục cho người thiếu mặc (giá trị y phục cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn đèn đóm (1 công). Cho mượn ô đi mưa/nắng (1 công). Phát thuốc miễn phí (1 công). Đưa giúp một lá thư giùm cho ai đến tay người nhận mà không đọc lén (1 công). Bố thí cho người nghèo (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp kẻ tha hương [nghèo túng] được hồi hương (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Giúp vợ chồng người ta [vì hoàn cảnh phải xa nhau] được đoàn tụ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Mùa đông cho kẻ hành khất bát canh nóng (1 công). Giúp người trong việc tang ma, cưới hỏi (cứ 100 quan tính 1 công). Đóng góp tiền để tạo tác hoặc bảo trì cầu cống, đường sá, đê điều, giếng nước (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp khâm liệm và mai táng xác chết [vô thừa nhận] (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Cho người bát cháo trong muà đói kém hoặc lúc thời giá đắt đỏ [kinh tế khó khăn] (2 công). Cứu giúp người bị bệnh dịch (2 công). Giúp chuộc tội cho kẻ bị án (phí tổn cứ 100 quan tính 2 công). Giúp người lang thang một chỗ qua đêm (1 đêm 2 công). Khuyên người điều hay lẽ phải (3 công). Chữa lành một vết thương nhỏ cho ai (3 công). Chôn cất xương vô chủ (10 công). Bảo vệ sức khỏe / sinh mệnh người khác (10 công). Giúp người khác trong công việc (10 công). Giúp người khỏi bị sẩy thai (20 công). Cứu người khỏi tội hình (20 công). Chữa lành một bệnh nặng (30 công). Bố thí quan tài (30 công). Cho phép chôn cất người nghèo trong phạm vi đất đai của mình (30 công). Chẩn tế cô nhi và quả phụ (30 công). Đem lại công bằng cho người bị áp bức (từ 30 đến 100 công tùy trường hợp). Cứu tế người bị đại nạn (50 công). Giúp một người nghèo khổ (50 công). Tổ chức tang ma cho người nghèo (50 công). Cứu trẻ gái khỏi bị trấn nước 15 (50 công). Cứu sống ai (100 công). Khi không có con nối dõi thì nhận một con nuôi (100 công). Giúp người nghèo một vốn liếng cần thiết để kết hôn (100 công). Thu nhận trẻ bị bỏ rơi (100 công). Giúp vợ chồng con cái người khác đang ly tán được đoàn tụ (100 công). Giúp người nghèo có một nguồn lợi đáng kể (100 công).

QUÁ: Giết người (100 quá). Hại người cho đến tàn mạt lụn bại (100 quá). Trấn nước bé gái (100 quá). Phá gia cang người khác (100 quá). Làm cho người khác hư hỏng sa đọa (100 quá). Xâm phạm nghĩa trang của gia tộc người khác (100 quá). Phá hoại mộ phần người ta (100 quá). Cản trở, phá hoại hôn nhân người khác (100 quá). Pha chế độc dược (100 quá). Chỉ vẽ phương thuốc cho ai khiến họ phải tốn kém nhưng chẳng trị được hết bệnh (100 quá). Không cứu người khỏi cơn nguy khi mình có thể giúp (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc trấn nước bé gái (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc phá thai (50 quá). Do oán hận mà hãm hại gia đình người ta (50 quá). Quăng ném bừa bãi hài cốt đã bị khai quật ra ngoài đồng ruộng (50 quá). San bằng phần mộ người khác trong vùng đất của mình (50 quá). Đạp dẫm lên lúa người khác trồng (30 quá). Làm hư hoại cầu, phà, giếng nước công cộng (30 quá). Trừng phạt lầm người (30 quá). Có thể giúp mà không chịu giúp cô nhi quả phụ lúc hoạn nạn (30 quá). Có thể làm được mà không chịu minh oan cho kẻ bị kết án sai (30 quá). Làm thầy thuốc mà chăm sóc bệnh nhân cẩu thả (20 quá). Không giúp kẻ bất hạnh (20 quá). Có thể làm được mà không chịu chỉ dạy cho người điều hay lẽ phải (10 quá). Xúc phạm người già, người tật nguyền, trẻ em (10 quá). Hớn hở mưu lợi từ sự bất hạnh của người khác (10 quá). Suốt một ngày làm cản trở giao thông tại đường nhỏ hẹp, bến phà, cầu kiều (10 quá). Quở trách người vô tội (3 quá). Đọc lén thư người khác (3 quá). Có trách nhiệm quản lý nhưng quản lý tồi nhân viên (3 quá). Uy hiếp, khủng bố người khác (3 quá). Cự tuyệt người nghèo đến xin giúp đỡ (2 quá). Gọi đích danh tên riêng của ai (2 quá). [16]

8/ THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT [16 điều, 8 công – 8 quá]

CÔNG: Cứu một con vật vô dụng [như già yếu, bị giết](1 công). Cứu một côn trùng (1 công). Nuôi nấng chu đáo gia súc (mỗi ngày 1 công). Chôn xác một con vật bị chết (1 công). Vuốt ve xoa dịu một con vật đang bị đau đớn (1 công). Mua và phóng sinh các con vật nhỏ bị bắt giữ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Không ăn thịt trong một năm (5 công). Cứu một con vật có ích (10 công).

QUÁ: Xúi giết hoặc ngăn cản phóng sinh một con vật (100 quá). Sát sinh một con thú lớn để ăn thịt (100 quá). Sát sinh một con thú có ích (20 quá). Sát sinh một con thú vô dụng [như già yếu] (3 quá). Sát sinh một côn trùng (1 quá). Xông khói hủy hoại tổ hang thú vật hay côn trùng (3 quá). Nhốt giữ chim trong lồng (1 quá). Không thương xót một con vật bị đau đớn (1 quá).

9/ TỔNG QUÁT VIỆC THIỆN VÀ ÁC [40 điều, 12 công – 28 quá]

CÔNG: Khuyên người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyến khích và giúp người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyên ai đóng góp tiền làm việc thiện (cứ 300 quan tính 1 công). In ấn và truyền bá sách khuyến thiện (phí tổn in ấn cứ 100 quan tính 1 công). Tặng ai một bản kinh sách khuyến thiện (10 công). Trong công việc, làm tốt nhiệm vụ được giao (10 công). Khuyên một gia đình hướng thiện (30 công). Công bố người tốt việc tốt (30 công). Xây dựng trường học cho bá tính (30 công /1 học sinh học ở đó). Giúp một người cải tà quy chính (50 công). Đề xướng một công trình công ích (100 công). Truyền bá tiểu sử những vị đạo đức, anh hùng (1000 công). Hoà giải một vụ xung đột, tranh chấp (3 công). Hoá giải một mối hận thù (5 công). Dàn xếp một vụ kiện tụng (5 công). Đốt bỏ sách đồi trụy (10 công). Cản ngăn sự đàm luận thô tục về phụ nữ (10 công). Lên án việc trấn nước trẻ gái (30 công). Cảnh báo một tội ác sắp xảy ra (30 công). Thuyết giảng về sự hòa thuận (50 công). Giảng về đạo hiếu (100 công).

QUÁ: Ngăn cản sự khuyến thiện (100 quá). Sàm báng người thiện lương (50 quá). Không hành thiện (5 quá). Khi có khả năng mà không động viên giúp đỡ ai cả (5 quá). Yểm tài người có công (5 quá). Là nguyên nhân khiến người khác tiếp tục lún sâu vào tội ác (5 quá). Tán tụng người quấy, khen kẻ tà đạo (5 quá). Dạy người làm ác (mỗi việc ác 1 quá, người xúi giục bị 2 quá). Xúi giục và tiếp tay người làm ác (mỗi người 1 quá). Gieo bất hòa, xúi giục kiện tụng (100 quá). Đỡ đầu trẻ lang thang để xúi chúng làm ác (100 quá). Khắc in và truyền bá sách đồi trụy (50 quá). Viết hồ sơ giấy tờ cho một vụ kiện càn quấy (50 quá). Viết giấy xác nhận ly hôn (50 quá). Tiến cử, giới thiệu kẻ vô đạo đức (30 quá). Bày vẽ cho người lề thói đồi bại (30 quá). Giao du với kẻ ác (mỗi lần 10 quá). Không an ủi kẻ đau khổ (1 quá). Không soi sáng cho kẻ u mê gây ác (1 quá).

10/ TƯ TƯỞNG [12 điều, 6 công – 6 quá]

CÔNG: Quét sạch tư tưởng hắc ám ngay khi nó mới nảy sinh trong đầu (1 công). Luôn ăn ở đàng hoàng ngay cả khi không có mặt ai (mỗi ngày 1 công). Không làm những gì có thể kích thích tư tưởng hắc ám (mỗi ngày 1 công). Suy gẫm điều thiện/ác xảy ra cho người thể như cho mình (10 công). Trọn một tháng làm lành tránh ác (100 công cộng thêm số công của các việc thiện đã làm, coi như thưởng cho sự bền bĩ).

QUÁ: Nuôi dưỡng trong đầu những tư tưởng hắc ám suốt một ngày (30 quá). Muốn điều xấu xảy ra cho người (10 quá). Đắc ý hớn hở trước lỗi lầm kẻ khác (10 quá). Không tin vào đức hạnh của người khác (2 quá). Khoái trá nghĩ đi nghĩ lại một tư tưởng bẩn thỉu (mỗi lần 1 quá). Uất hận, hoặc có tư tưởng xấu nói chung (mỗi lần 1 quá). Lơ đãng khi đọc kinh hoặc cầu nguyện (mỗi lần 1 quá).

11/ HÀNH VI [19 điều, 10 công – 9 quá]

CÔNG: Hoàn thành nhiệm vụ trong ngày (1 công). Hành động vì bổn phận, không vì cầu khen thưởng (2 công). Tự sửa được lỗi lầm khi được cảnh cáo (3 công). Noi gương tốt của ai (3 công). Không tìm cầu ân huệ của kẻ giàu sang quyền thế (5 công). Kiêng tránh những tham vọng ngông cuồng (20 công). Nhượng bộ người đức hạnh (20 công). Bền bĩ kiên trì hành thiện cho đến lúc đạt kết quả tốt đẹp (20 công). Chịu thiệt phần mình mà lợi cho người (50 công). Sống hòa thuận với người khác, không chấp nê những xúc phạm vụn vặt (100 công).

QUÁ: Mưu hại người (100 quá). Làm hại người để lợi về mình (50 quá). Sàm báng người đạo cao đức trọng (50 quá). Giành công về mình những điều thiện không do mình làm (30 quá). Núp bóng việc công để trục lợi riêng [như lợi dụng lạc quyên để bỏ túi riêng] (10 quá). Ngoan cố làm ác (3 quá). Cản trở không cho một việc thiện được thành tựu (1 quá). Hành động ích kỷ (1 quá). Từ chối không tán thành một việc đáng tưởng thưởng (1 quá).

12/ NGÔN NGỮ [18 điều, 5 công – 13 quá]

CÔNG: Nói năng thận trọng, dè dặt, trung thực (mỗi ngày 1 công). Nói lời lành và lời ấy giúp ích cho ai (10 công). Khuyến khích việc lành, bài bác việc ác, bằng cách giảng thuyết về lẽ thiện ác báo ứng, luật nhân quả (10 công). Chứng minh sự vô tội của một bị cáo (50 công). Giảng thuyết sách khuyến thiện (100 công).

QUÁ: Làm báo cáo láo, phúc trình sai lạc (100 quá). Nói báng bổ thánh thần (50 quá). Tiết lộ tật kín của ai (50 quá). Châm biếm về đức hạnh phụ nữ (50 quá). Gieo rắc bất hòa (30 quá). Nói lừa phỉnh ai (10 quá). Báng bổ việc thiện, đạo đức (10 quá). Đặt vè châm biếm ai (5 quá). Diễu cợt dáng vẻ bộ điệu của ai (3 quá). Thích nói về khuyết điểm của người khác (1 quá). Nói dối (1 quá). Nói chơi, nói tục (1 quá). Ba hoa lắm lời không thôi (1 quá).

13/ ĐỐI VỚI THÁNH THẦN [16 điều, 4 công – 12 quá]

CÔNG: Cúc cung phụng thờ thiên thần, địa thần, tổ tiên nơi từ đường (1 công). Lấy giấy có chữ lẫn trong đống rác mà đốt đi 17(1 công). Chi phí vào nơi đền miếu thờ phụng (cứ 100 quan tính 1 công). Khắc in và truyền bá lời dạy của thánh hiền (100 công).

QUÁ: Phê bình thánh hiền và chữ nghĩa của thánh hiền (100 quá). Phá hoại miếu mạo, đền chùa (50 quá). Hủy hoại kinh sách (20 quá). Nhục mạ thánh thần, tổ tiên (20 quá). Trích dẫn kinh sách để đùa cợt mua vui (10 quá). Gọi tên thần thánh để thề thốt gian dối (10 quá). Day về hướng Bắc [có sao Bắc Đẩu, nơi ngụ của chư thần] mà chưởi rủa, khạc nhổ, tiểu tiện (3 quá). Làm dơ bẩn giấy có chữ viết/in (3 quá). Làm dơ bẩn bếp lò và giếng nước [là nơi của Táo quân và chư thần] (1 quá). Tay bẩn chạm vào kinh sách (1 quá). Đêm tối để cho thân thể lõa lồ 18(1 quá).

14/ DỤC VỌNG VÀ TỰ CHỦ [15 điều, 8 công – 7 quá]

CÔNG: Lịch sự, nghiêm trang (mỗi ngày 1 công). Không lì lợm, ngoan cố (1 công). Chịu đựng sự mâu thuẫn (1 công). Không nổi giận (3 công). Kiên trì, chịu khó (3 công). Tha thứ kẻ xúc phạm mình (3 công). Nhẫn nhịn sự công kích/chống đối (5 công). Cam chịu nghịch cảnh, không oán trách trời và người (10 công).

QUÁ: Cư xử thô lỗ cục súc (100 quá). Hay gây hấn với mọi người (30 quá). Phản kháng, cãi lại (10 quá). Càu nhàu phàn nàn khi có lỗi hay thất vọng (5 quá). Cáu giận, quát tháo (5 quá). Thích lời nịnh bợ (1 quá). Khi say rượu chưởi bới/đánh đập người khác (1 quá).

15/ Y PHỤC VÀ ẨM THỰC [7 điều, 3 công – 4 quá]

CÔNG: Tri túc (mỗi ngày 1 công). Gom nhặt ngũ cốc rơi rớt trên mặt đất (1 công). Ăn không kén chọn/đòi hỏi thức ăn (1 công).

QUÁ: Mong muốn quá phận (10 quá). Mặc y phục vượt quá hoàn cảnh của mình (5 quá). Lãng phí ngũ cốc (1 quá). Hoang phí của cải, vật chất (1 quá).

16/ TÀI SẢN VÀ THƯƠNG NGHIỆP [31 điều, 14 công – 17 quá]

CÔNG: Trung thực trong kinh doanh (mỗi ngày 1 công). Chia lời lãi chính xác cho người hùn hạp kinh doanh (1 công). Trả lương đúng kỳ hạn cho nhân viên (1 công). Cho người hàng xóm mượn đồ nghề khi họ cần đến (1 công). Thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 1 công). Xỏ xâu các quan tiền và đếm đúng (cứ 100 quan tính 1 công). Nộp thuế đủ và đúng hạn (cứ 100 quan tính 1 công). Không tăng giá lúa gạo / lương thực trong năm đói kém (cứ 100 quan tính 1 công). Bố thí xứng đáng cho người nghèo đang xin mình (cứ 100 quan tính 1 công). Nhận phải tiền giả bạc giả, thà chịu thiệt thòi phần mình chứ không chuyển sang người khác (cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn tiền không lấy lãi (cứ 200 quan tính 1 công). Cân đo đúng (10 công). Không truy bức một con nợ đang túng quẫn (10 công). Giúp một gia đình mắc nợ được phục hồi cơ nghiệp (100 công).

QUÁ: Làm tiền giả bạc giả (100 quá). Tiêu tán di sản tổ tiên (100 quá). Truy bức một con nợ đang túng quẫn (100 quá). Chiếm đất đai người khác (50 quá). Xúi giục người khác cờ bạc (10 quá). Cờ bạc bịp (cứ 100 quan ăn gian tính 1 quá). Cưỡng đoạt tiền của người khác (cứ 100 quan tính 10 quá). Trục lợi từ cảnh khốn cùng của người khác (cứ 100 quan tiền lời tính 10 quá). Trong năm đói kém, bán lúa gạo cứa cổ thiên hạ (mỗi ngày 1 quá). Trong thanh toán, tính trội số tiền mà người ta phải trả (cứ 100 quan tính trội tính 5 quá). Không thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 5 quá). Uy hiếp người ta phải bán rẻ cho mình một tài sản (cứ 100 quan tiền lời tính 5 quá). Chi trả cho người khác tiền giả, ngân phiếu giả, bạc giả (cứ 100 quan tính 3 quá). Cân đo dư khi thu vào, cân đo thiếu lúc bán ra (cứ 100 quan lời bất chính tính 1 quá). Trộm cắp hoặc gây thiệt hại cho người (cứ 100 quan tính 1 quá). Dùng sái tài năng trời phú cho mình [dùng tài năng vào việc bất chính] (mỗi lần 1 quá). Lén chiếm đoạt tài sản của người dù là cây kim cọng rạ (1 quá).

17/ GIỚI DÂM [38 điều, 16 công, – 22 quá]

CÔNG: Trải qua một ngày một đêm không tà ý (1 công). Không đọc dâm thư, không xem hình ảnh đồi trụy (1 công). Tránh né một cuộc gặp gỡ nguy hiểm [dẫn đến tà dâm] (1 công). Không kết giao kẻ dâm ác (1 công). Ngăn cản người khác thốt lời tục tĩu (3 công). Mạnh dạn nói về hậu quả của hạnh kiểm xấu, v.v. (mỗi lần 1 công). Không nhìn chòng chọc vào người đẹp (5 công). Xua đuổi kẻ xúi mình làm quấy (5 công). Ở nhà cư xử trang nghiêm với vợ (10 công). Cưỡng lại sự sa ngã cám dỗ (mỗi lần 10 công). Tôn trọng tớ gái (100 công). Tôn trọng một phụ nữ, không lợi dụng cô ta trong hoàn cảnh có thể lợi dụng được (100 công). Hủy bản khắc gỗ dùng in sách/ảnh đồi trụy (300 công). Viết bài đả kích sự dâm dục (300 công). Dìu dắt một thiếu nữ bỏ nhà đi hoang trở về với gia đình (300 công). Suốt đời không ngoại tình (1000 công).

QUÁ: Sáng tác dâm thư, vẽ hình tục tĩu (vô số quá). Do thông dâm mà ám sát/đầu độc một phụ nữ (1000 quá). Do phóng đãng mà phá nát gia cang (1000 quá). Xúi giục người phá thai (1000 quá). Thông dâm với tớ gái, gái góa, nữ tu (300 quá). Thông dâm với đàn bà đã từng trung trinh với chồng (100 quá). Thông dâm với phụ nữ mất hạnh phúc [chăn gối] trong hôn nhân (50 quá). Cưỡng dâm tớ gái, vợ của tớ trai, vú em (100 quá). Qua đêm với gái điếm (10 quá). Ăn chơi sa đọa làm hủy hoại thân thể [hoặc mắc bệnh phong tình] đến nỗi cha mẹ không có cháu nối dõi (100 quá). Chứa gái điếm, dắt mối cho kẻ kê gian [19], công khai bảo bọc gái điếm hay gái bao (10 quá). Trong danh sách các tuồng hí kịch, cố ý lựa chọn các vở tuồng dâm đãng (10 quá). Ngắm nghía phụ nữ một cách đầy tà ý (5 quá). Bỡn cợt trơ trẽn về tính dục (5 quá). Tại nhà, quá phóng túng suồng sã với vợ (5 quá). Không kiêng cữ chuyện chăn gối vào các ngày giỗ cha mẹ (3 quá). Sở hữu và gìn giữ dâm thư, hình ảnh đồi trụy (mỗi ngày 1 quá). Đặt thơ vè tục tĩu (1 quá). Trong mùa nóng nực để thân thể lõa lồ cho thoải mái (1 quá). Nói lời tục tĩu (1 quá). Trên phố không nhường bước phụ nữ (mỗi lần 1 quá). Chưởi tục tớ gái (mỗi lần 1 quá).

TẠM KẾT

Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách là ba thiện thư tối cổ và tiêu biểu của Đạo giáo. Ta nhận ra sự dung hợp luân lý tam giáo với lý luận của Đạo giáo về sinh mệnh (tu luyện thành tiên).

Công Quá Cách quá chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (công coi như điểm dương, quá coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng hay hình phạt vô hình nào đó. Người tuân thủ Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách dễ có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập 百福 駢 臻 千 祥 雲 集 (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về).

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện/ ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người. Ở khía cạnh này, Công Quá Cách đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng những trường hợp ấy vẫn chưa được kể ra đầy đủ so với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng.

CHÚ THÍCH

[1] Phần này chủ yếu dựa vào Khanh Hy Thái 卿 希 泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中 國 道 教, Thượng Hải, 1996, quyển 2, trang 356-358, và Lý Cương 李 剛, Đạo Giáo Sinh Mệnh Luân Lyù 道 教 生 命 倫 理, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 158-164.

[2] Đạo Cao Đài cũng có cách ghi tương tự, gọi là Vô Ngã Kiểm 無 我 檢, tự kiểm mà tu dưỡng để tiến tới cảnh giới thuần chân vô ngã 純 真 無 我.

[3] Thuộc Đạo Tạng 道 藏 – Động Chân 洞 真bộ, Giới Luật 戒 律loại.

[4] Tử phủ 紫 府: cung trời (heaven), cung tiên (the palace of the genii). Mathews’ Chinese-English Dictionary, Harvard University Press, 1971, mục từ 6954.

[5] Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘 呂 傳 道 集 do Lữ Động Tân 呂 洞 賓ghi chép lời của Chung Ly Quyền 鐘 離 權truyền đạo cho mình dưới hình thức vấn đáp. Sách xuất hiện cuối đời Đường, gồm 18 luận đề, là một cổ thư về luyện đan hết sức quan trọng.

[6] Tam đảo (hoặc Tam Tiên Đảo三 仙 島 hay Tam Hồ 三 壺) là ba đảo tiên ở Bột Hải 渤 海 (theo truyền thuyết), gồm Bồng Lai 蓬 萊, Phương Trượng 方 丈 và Doanh Châu 瀛 洲. Xưa kia Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 nghe lời mê hoặc của các phương sĩ như Từ Phất 徐 芾, Lô Sinh 盧 生, Hàn Chúng 韓 眾 và Hầu Công 侯 公 v.v , đã hoài công sai họ và biết bao đồng nam đồng nữ cùng hàng nghìn người trai giới đem lễ vật vượt trùng dương tìm Bồng Lai Phương Trượng mà xin thần tiên thuốc trường sinh bất tử.

[7] Ngô Phong 吳 楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中 華 道 學 通 典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 515 (Chú giải Thái Bình Kinh 太 平 經).

[8] Quan 鰥: kẻ góa vợ hoặc không vợ; quả 寡: kẻ góa chồng; cô 孤: trẻ mồ côi; độc 獨: người không con.

[9] Léon Wieger S.J., Histoire des Croyances religieuses et des Opinions philosophiques en Chine, Hien-hien 獻 縣 (Hiến Huyện), 1927, tr. 579 (L’index des mérites et des démérites). Xem bản dịch phía sau.

[10] Lão Tử nói: «Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín» 信 言 不 美 美 言 不 信 (Lời đáng tin thì không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không đáng tin), Đạo Đức Kinh 道 德 經, chương 81. Khổng Tử nói: «Xảo ngôn lệnh sắc tiển hỹ nhân» 巧 言 令 色 鮮 矣 仁 (Kẻ nào lời nói hoa mỹ và bề ngoài kiểu cách ắt kém lòng nhân), Luận Ngữ 論 語, Học Nhi 學 而.

[11] Dịch theo bản Pháp văn của Léon Wieger, Sđd., tr. 579.

[12] Bản Công Quá Cách này vẫn không thoát khỏi quan niệm trọng nam khinh nữ cố hữu của Trung Quốc.

[13] Đây là bối cảnh xã hội Trung Quốc thời xưa theo chế độ đa thê.

[14] Trong xã hội Trung Quốc ngày xưa, người ta mua gia nhân tôi tớ (từ những gia đình nghèo) và thường buộc họ phải sống độc thân mà phục vụ chủ. Công Quá Cách khuyên chủ nhân phải cho tôi tớ sự tự do kết hôn, giúp họ có hạnh phúc riêng tư, chu cấp tớ gái (cho của hồi môn) khi lấy chồng. Đây là tư tưởng tiến bộ của Công Quá Cách, giải thoát cho gia nhân kiếp tôi đòi.

[15] Thói trọng nam khinh nữ khiến nhiều kẻ nhấn nước giết trẻ gái là con mình.

[16]  Người Trung Quốc xưng hô bằng họ, gọi tên là khinh bỉ.

[17] Ý nói văn tự là phát minh tuyệt diệu của thánh hiền, truyền cho con người tri thức, sự thông minh, và đạo lý; xúc phạm văn tự (ném giấy có chữ vào đống rác hay đi vệ sinh) là có lỗi.

[18] Ý nói nơi nào dù nhà tối cũng có chư thần, để thân thể lõa lồ là xúc phạm thần linh.

[19] «Servir de proxénète à une prostituée, à un sodomite.» Kinh mà ghi rõ là sodomite kể cũng lạ.

Posted in THAM KHAO | Leave a comment

Công Quá Cách

Từ Công Quá Cách của Đạo giáo

đến Vô Ngã Kiểm của Cao Đài giáo

Lê Anh Minh

Trong ba đại thiện thư của Đạo giáo là Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, Công Quá Cách thì Công Quá Cách có thể được xem là một bảng tự kiểm hàng ngày của người tu nhằm tu sửa bản thân, hành thiện, xa lánh điều ác. Đạo Cao Đài cũng có cách ghi tương tự, gọi là Vô Ngã Kiểm 無我檢, tức là tự kiểm để tu dưỡng nhằm tiến tới cảnh giới thuần chân vô ngã 純真無我. Bài viết này thử tìm hiểu sự tương đồng và dị biệt giữa Công Quá Cách của Đạo giáo và Vô Ngã Kiểm của Cao Đài giáo.

CÔNG QUÁ CÁCH [1]

Công Quá Cách bắt nguồn từ đời Hán. Trong Thái Bình Kinh đời Đông Hán có thuật ngữ «Thiên khoán» 天券, coi như đồng nghĩa với «Thiên cách» 天格, tức là «Thiên chi cách pháp» 天之格法. Dịch học đời Hán có cách xem ngày tốt xấu theo bát quái do Mạnh Khang 孟康 giảng, và thuật ngữ Thiên khoán chịu ảnh hưởng của cách xem ngày này nhưng các đạo sĩ đã cải biến ý nghĩa mà thành cách ghi công và tội mà mỗi cá nhân đã làm hàng ngày. Vậy Công Quá Cách là một dạng bảng tự kiểm hàng ngày. Thiện ngôn thiện hành (lời lành việc tốt) được xem là công và được ghi vào công cách 功格; ác ngôn ác hành (lời ác việc ác) được xem là quá và được ghi vào quá cách 過格 (chữ quá 過 nghĩa là «sai lầm, tội lỗi»). Lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách [2] 太微仙君功過格 viết: «Tu Chân chi sĩ, minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, tự tri công quá đa quả» 修真之士,明書日月,自記功過,自知功過多寡 (Người tu chân mỗi ngày mỗi tháng phải ghi rõ công và tội của mình để tự biết công và tội ấy nhiều hay ít). Cũng theo lời tựa này, đời Kim 金 (1115-1234) năm Đại Định 大定 Tân Mão 辛卯 (1171) (triều vua Thế Tông 世宗), một đạo sĩ tên là Hựu Huyền Tử 又玄子 đã mộng du tử phủ [3] 紫府, triều lễ Thái Vi Tiên Quân và nhận lĩnh yếu chỉ Công Quá Cách; khi tỉnh mộng, chấp bút viết thành sách này.

Chung Lữ Truyền Đạo Tập [4] 鐘呂傳道集, chương 18 (Luận Chứng Nghiệm 論證驗) viết: «Ư tử phủ triều kiến Thái Vi Tiên Quân, khế khám hương nguyên danh tính, hiệu lượng công hành đẳng thù, nhi ư Tam Đảo an cư, nãi viết chân nhân tiên tử» 於紫府朝見太微仙君契勘鄉原名姓校量功行等殊而於三島安居乃曰真人仙子 (Nơi cung tiên triều kiến Thái Vi Tiên Quân để được khám xét tên và nguyên quán có phù hợp chăng, rồi được xét công trạng đã làm vân vân, kế đến là an cư nơi ba đảo tiên, bấy giờ được gọi là thần tiên).[5]

Các học giả Nhật Bản, như Tửu Tỉnh Trung Phu 酒井忠夫, Cát Cương Nghĩa Phong 吉剛義豐, Thu Nguyệt Quan Ánh 秋月觀映, cho rằng Thái Vi Tiên Chân Công Quá Cách có liên quan với Tịnh Minh Đạo  淨明道 vì giáo phái này yêu cầu đệ tử phải có cuốn sổ nhỏ, ghi chép những việc tội phước mỗi ngày để phản tỉnh mà tu dưỡng. Kinh Thái Thượng Linh Bảo Tịnh Minh Phi Tiên Độ Nhân Kinh Pháp 太上靈寶淨明飛仙度人經法 của Tịnh Minh Đạo đời Nguyên dạy về Thập Giới 十戒, thì giới thứ 3 yêu cầu mỗi người học đạo phải có một quyển nhật ký, gọi là nhật lục 日錄: «Nhật lục giả, sở dĩ tu kiểm thiện ác chi xứ» 日錄者所以修檢善惡之處 (Nhật lục là nơi tu dưỡng và kiểm điểm việc thiện ác của mình). Nó là «bất giáo chi sư dã, bất thuyết chi hữu dã, bất chiếu chi quân phụ, bất ước chi pháp độ» 不教之師也不說之友也不詔師父不約之法度 (Người thầy không dạy, là người bạn không nói, là vua và cha không ra lệnh, là pháp độ không ấn định).

Nhưng cách tự ghi công và tội mà mình đã làm hàng ngày cũng rất phổ thông, đâu phải chỉ Tịnh Minh Đạo mới có. Cuối đời Đường đã có một bản Công Quá Cách khác gọi là Lữ Động Tân Thập Giới Công Quá Cách 呂洞賓十誡功過格. Lại có quyển Cảnh Thế Công Quá Cách 警世功過格 nữa. Như vậy Công Quá Cách có rất nhiều chủng loại. Phép tự kiểm bằng cách ghi ra sổ hoặc dùng hạt đậu (đậu vàng hoặc đỏ ghi việc thiện, đậu đen ghi việc ác) cũng là tập quán của Tống Nho. Tương truyền Phạm Trọng Yêm 范仲淹 (989-1052) và Tô Tuân 蘇洵 (1009-1066) luôn có một cuốn Công Quá Cách theo bên mình.

Chủ đề chính của Công Quá Cách vẫn là thiện ác báo ứng, một quan niệm hình thành vào thời Tiên Tần. Dịch Kinh, Văn ngôn 文言 ở quẻ Khôn 坤, nói: «Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương» 積善之家必有餘慶積不善之家必有餘殃 (Nhà nào tích thiện thì ắt có dư điều tốt lành; nhà nào tích ác thì ắt có dư tai ương). Thái Bình Kinh 太平經, thiên Đại Công Ích Niên Thư Xuất Tuế Nguyệt Giới 大功益年書出歲月戒, nói: «Quá vô đại tiểu, Thiên giai tri chi, bạ sớ thiện ác chi tịch, tuế nhật nguyệt câu hiệu, tiền hậu trừ toán giảm niên. Kỳ ác bất chỉ, tiện kiến quỷ môn» 過無大小天皆知之薄疏善惡之籍歲日月拘校前後除算減年其惡不止便見鬼門 (Tội lỗi chớ kể lớn nhỏ, Trời đều biết cả và ghi chép vào sổ thiện ác, vào ngày [cuối] tháng [8] mỗi năm đều có sửa đổi chỉnh lý, [xem] trước sau [để] trừ bớt tuổi thọ. Nếu không dừng tội ác, kẻ gây ác phải vào cửa quỷ).[6] Tuy nhiên trong các chủng loại Công Quá Cách, việc thiện được tính theo đơn vị là công 功 (như cứu sống một người trọng bệnh thì tính là 10 công, chẩn tế những kẻ quan quả cô độc [7] một trăm quan tiền thì tính là một công, v.v…), việc ác được tính theo đơn vị là quá 過 (như hại tính mạng người khác thì tính là 100 quá, hại sinh mạng mỗi con chim muông cầm thú thì tính là 10 quá, v.v…). Công và quá còn nhân lên với số ngày và số đối tượng liên đới (người / vật) như tạo thuyền bè và bắc cầu giúp người qua sông miễn phí thì phí tổn cứ 100 quan tiền là một công và mỗi người lao động một ngày được 10 công.

THÁI VI TIÊN QUÂN CÔNG QUÁ CÁCH

Nội dung cơ bản của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách 太微仙君功過格 gồm hai loại chính: Công Cách 功格 (ghi điều thiện) và Quá Luật 過律 (ghi điều ác).

Công cách có 36 điều, chia làm 4 loại:

(1) Cứu Tế 救濟 (12 điều): nói về cứu bệnh nhân bằng y liệu châm cứu, giúp người khốn khó hoạn nạn bằng tài vật, tạo cầu sửa đường, chôn cất xác vô thừa nhận. Thí dụ, dùng thuốc và châm cứu trị người trọng bệnh (10 công); cứu người khỏi tội tử hình (100 công); chẩn tế những người quan quả cô độc (1 công cho mỗi 100 quan tiền); giúp người đói khát một miếng ăn miếng uống (1 công); giúp người lỡ bước một chỗ ngủ ấm áp trong đêm giá rét (1 công); chôn cất xác vô thừa nhận (50 công), v.v…

(2) Giáo điển 教典 (7 điều): nói về truyền thụ kinh sách và pháp tu. Thí dụ, tự chú soạn kinh sách hay phép tắc cứu người là 30 công, v.v…

(3) Phần tu 焚修 (việc hương khói và tu sửa nơi thờ phụng, 5 điều): nói về việc kiến tạo miếu mạo, tượng thờ, các vật cúng dường. Thí dụ, tu bổ tượng thờ, điện thờ, cúng dường đồ khí mãnh, rèm trướng, bàn ghế và những vật dụng khác (1 công cho mỗi phí tổn 100 quan tiền); sớm chiều thắp nhang cầu an cho đất nước và bá tánh (mỗi lần 2 công) và cầu an cho mình (mỗi lần 1 công); vì dân vì nước vì tổ tiên quá vãng vì cô hồn vô chủ mà tụng kinh (một biến kinh lớn là 6 công, một biến kinh nhỏ là ba công), v.v…

(4) Dụng sự 用事 (12 điều): nói về các loại việc thiện. Thí dụ, giảng dạy kinh sách khuyến thiện (cho mỗi 10 người thì được 1 công); lấy văn chương thi từ mà khuyến thiện (mỗi bài là 1 công); tiến cử người hiền tài đạo đức (tiến cử 1 người thì được 10 công); tán dương việc thiện của người (mỗi việc 1 công); ngăn chận việc ác của người (mỗi việc 1 công); khuyên người chớ bất liêm, bất hiếu, bất trinh, bất lương, bất nghĩa, bất thiện, bất từ, bất nhân (mỗi người hồi tâm tùng thiện thì ta được 1 công), v.v…

Quá luật có 39 điều, cũng chia làm 4 loại:

(1) Bất nhân 不仁 (15 điều): nói những việc bất nhân như dùng độc dược hại người (10 quá); hại mạng người (100 quá); hại mạng chúng sinh thú cầm (10 quá); học bùa chú để hại người (10 quá); mưu hại người bị tử hình (mưu thành bị 100 quá, mưu bại bị 10 quá); nảy sinh lòng tà dâm (1 quá); nói lời độc ác đối với sư trưởng (10 quá), với người thiện (8 quá), với người bình thường (4 quá), với trẻ em hoặc kẻ dưới (1 quá), v.v…

(2) Bất thiện 不善 (8 điều): như bài xích hủy hoại tượng thờ chư thiên tôn (20 quá), chân nhân (15 quá), thần quân (10 quá); tụng niệm kinh sót một chữ (1 quá), sót một câu (5 quá), đọc sai âm một chữ (1 quá); đọc tụng thác loạn làm mất ý nghĩa một câu kinh (5 quá); đọc tụng mà không chuyên tâm lòng còn lo nghĩ việc khác (5 quá); đọc kinh không theo nghi thức (5 quá); đọc kinh mà phát sinh sân nộ (10 quá), v.v…

(3) Bất nghĩa 不義 (10 điều): như biết người hiền mà không tiến cử (1 quá), không bắt chước (1 quá); phản bội sư trưởng (50 quá); trộm cắp và dạy người trộm cắp (100 tiền ứng với 1 quá); mượn tiền không trả (100 tiền ứng với 1 quá); v.v…

(4) Bất quỹ 不軌 (không noi theo phép tắc, 6 điều): như điều răn thực nhục (ăn thịt): cố ý sát sinh mà ăn (6 quá), mua thịt ăn (3 quá); ăn nhầm thức ăn có thịt (3 quá); ăn thịt vào ngày phải ăn chay (10 quá); ăn thịt xong vào chùa nói điều thiện (10 quá); và điều răn ẩm tửu (uống rượu): uống rượu cùng mưu việc ác (mỗi thăng rượu 6 quá); uống rượu với kẻ bất lương (mỗi thăng 2 quá); vô cố uống rượu với thường nhân (mỗi thăng 1 quá); uống rượu trợ dâm (mỗi thăng 10 quá); uống rượu đến say vào ngày ăn chay hoặc uống xong vào chùa nói điều thiện (5 quá), v.v…

Trên đây là nội dung sơ lược của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Qua đó ta có thể thấy những luật định bao quát 3 phương diện: tư tưởng (ý), lời nói (khẩu), và hành vi (thân). Trong lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách, Hựu Huyền Tử nói: «Minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, nhất nguyệt nhất tiểu tỉ, nhất niên nhất đại tỉ. Tự tri công quá đa quả, dữ thượng thiên chân tư khảo hạch chi số chiêu nhiên tương khế.[…] Y thử hành trì, viễn ác thiên thiện, thành vi chân giới, khứ tiên bất viễn hỹ» 明書日月自記功過一日一小比一年一大比自知功過多寡與上天真司考核之數昭然相契 […] 依此行持遠惡遷善誠為真戒去仙不遠矣 (Viết rõ từng ngày từng tháng, tự ghi công và tội của mình, một tháng thì tỉ lệ nhỏ, một năm thì tỉ lệ lớn. Tự biết công và tội của mình nhiều hay ít, và số liệu ấy ăn khớp rõ ràng với số liệu mà vị thần trên trời tra xét. […] Cứ theo cách này mà hành trì, xa điều ác gần điều thiện, thành tâm làm theo những giới cấm chân chính này, thì thành tiên không xa vậy).

Nhưng Công Quá Cách có nhiều chủng loại. Ta có thể kể thêm Thập Giới Công Quá Cách, tương truyền là do Lữ Động Tân trứ tác.

THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH

Léon Wieger [8] cho rằng Thập Giới Công Quá Cách 十戒功過格 xuất hiện cuối đời Đường, nhưng theo Khanh Hy Thái, Thập Giới Công Quá Cách hấp thu nội dung tu dưỡng của Lý học gia đời Tống và Minh, như vậy ắt xuất hiện rất trễ tuy nhiên chẳng rõ vào thời điểm nào.

Thiện thư này bảo: «Học Đạo nãi thân tâm tính mệnh chi sự.[…] Dĩ thập giới định công quá» 學道乃身心性命之事 […]以十戒定功過 (Học Đạo là chuyện [liên quan đến] thân tâm và tính mệnh. […] Nên lấy thập giới để định công và quá).

Thập giới là 10 giới cấm về sát 殺 (sát sinh, giết người và loài vật), đạo 盜 (trộm cắp), dâm 淫 (dâm dục), khẩu ác 口惡 (lời nói ác độc), khẩu thiệt 口舌 (cãi cọ), ỷ ngữ 綺語 (lời nói hoa mỹ),[9] vọng ngữ 妄語 (lời nói dối trá), tham 貪 (tham lam), sân 嗔 (nóng giận), và si 痴 (ngu si). Bảy giới đầu ứng với 4 giới trong Ngũ Giới Cấm của Phật giáo (bất sát sinh, bất du đạo, bất vọng ngữ, bất tà dâm), còn 3 giới sau ngăn trừ tam độc (tham, sân, si).

Bản Thập Giới Công Quá Cách mà Léon Wieger dịch ra Pháp văn chia thành 17 chủ đề như: (1) Đối với cha mẹ, (2) Đối với huynh đệ, (3) Đối với thê thiếp, (4) Cha và chú bác đối với con cháu, (5) Môn đệ đối với thầy học và bằng hữu đối với nhau, (6) Đối với gia nhân, (7) Bác ái, từ thiện, (8) Thương yêu loài vật, (9) Tổng quát về thiện ác, (10) Tư tưởng, (11) Hành vi, (12) Ngôn ngữ, (13) Đối với thánh thần, (14) Dục vọng và tự chủ, (15) Y phục và ẩm thực, (16) Tài sản và thương nghiệp, và (17) Giới dâm.

Tóm lại, Công Quá Cách – cũng như Cảm Ứng Thiên Âm Chất Văn – dung hợp luân lý tam giáo với lý luận về sinh mệnh của Đạo giáo (tu luyện thành tiên). Phương pháp tu dưỡng đạo đức này ngày nay cũng được thể hiện qua Vô Ngã Kiểm của Đạo Cao Đài. Nhưng giữa Công Quá Cách của Đạo giáo và Vô Ngã Kiểm của Đạo Cao Đài có những đặc điểm tương đồng và dị biệt ra sao?

VÔ NGÃ KIỂM [10]

Đức Quan Âm Bồ Tát giáng bút rằng:

«Chư hiền sĩ hiền muội đã theo dõi và hình dung một con người có hai trạng thái, từ trong nội tâm cũng như nơi ngoại thể hằng mâu thuẫn nhau. Vì vậy trong cửa tôn giáo, nói đúng hơn là phần Đạo học, thường dạy người tu thân học đạo nên thận trọng, kỹ lưỡng, theo dõi để phân tích và kiểm soát phần nội tâm mình, từ ý nghĩ, lời nói, đến việc làm, xem coi phần nào là thiên phú (thiên tánh chân ngã), và phần nào là của cái ta (giả ngã). Có như vậy mới phân tích nhận định được việc nào nên nghĩ, nên nói, nên làm, và việc nào không nên nghĩ, không nên nói, không nên làm. Trước nhất, bản thân mỗi người suốt một ngày làm việc mưu sinh, chung đụng với những phức tạp hỗn loạn ngoại cảnh, tâm trí con người bị xáo trộn. Sau một ngày ấy, cần để nhín chút thì giờ (nếu nhiều thì càng tốt) để kiểm điểm nội tâm. Khi lòng được an định rồi, sẽ kiểm điểm lại suốt ngày qua mình đã tiếp xúc với những ai, có những ý nghĩ gì, nói những ngôn ngữ nào, và có những hành động gì. Khi lòng trần lắng dịu, Phật tánh phát hiện lần lần, sẽ thấy nổi lên những nét thiện ác trong những hoạt động ngày qua.

«Nhớ rằng phải công bình mà phán xét, phải vô tư mà nhận định, đừng tự ái, ích kỷ, vì một mình trong phòng tối còn ai nhìn thấy hoặc hiểu biết những hoạt động không đẹp ấy đâu mà tự ái, phải hoan hỉ để phục thiện và hoan hỉ để tinh tiến.

«Trên hình thức cụ thể để theo dõi sự tu tiến của mình, Bần Đạo chỉ cho hai phương pháp:

«Một là sắm một cuốn sổ tay nhỏ, hai cây bút có hai màu đen đỏ. Trên cuốn sổ đó hãy chia nhiều hàng theo chiều ngang, nhiều hàng theo chiều dọc. Khi vô tư tự kiểm, thấy rằng trong ngày nay có nhiều điểm thiện, từ tư tưởng, ngôn ngữ đến hành động, thì ghi bút màu đỏ bằng một chấm hoặc khoanh tròn nhỏ. Nếu có một điểm thiện trong tư tưởng, ghi ở cột tư tưởng một khoanh tròn đỏ, nếu được hai, ba, bốn, năm, v.v… ở phần tư tưởng thì cũng khoanh tròn hai, ba, bốn, năm khoanh.

«Ở cột ngôn ngữ cũng làm như vậy, hoặc ở cột hành động cũng làm như vậy. Ngày nay ghi ở mức độ đó, nếu ngày mai các phần thiện có tiến triển hơn thêm sẽ lập một bản đồ cho trang giấy kế bên về sự trồi hoặc tiến triển đó.

«Ngược lại, khi vô tư tự kiểm, nếu thấy mình có những tư tưởng, ngôn ngữ, hành động nào có vẻ bất thiện, thì ghi theo thứ tự mỗi cột bằng bút mực màu đen và đồng thời ghi sang bản đồ bên trang kế theo sự trồi sụt của nó. Đó là phương pháp thứ nhất dành cho người học đạo có trình độ văn hóa, kế toán, v.v… và siêng năng.

«Sau đây là phương pháp thứ hai để dành cho người tu học trình độ văn hóa hơi kém hoặc lười biếng. Sắm hai cái hộp có nắp, một hộp đựng đầy hột đậu đỏ, một hộp khác đựng đầy hột đậu đen, và sắm một hộp thứ ba để trống. Khi tham thiền tịnh định vô tư tự kiểm, nếu thấy trong ngày qua từ ý nghĩ, lời nói, việc làm không mấy tốt đẹp thì đếm đủ bấy nhiêu số hột đậu đen bỏ vào hộp thứ ba. Trái lại, khi vô tư tự kiểm, thấy ngày qua có được những ý nghĩ (tư tưởng), ngôn ngữ, hành động được tốt đẹp, thì cũng đếm bấy nhiêu hột đậu đỏ bỏ vào hộp thứ ba.

«Phương pháp thứ hai này tuy giản dị, dễ làm, nhưng không theo dõi được phần nào tiến hoặc thoái của tư tưởng, ngôn ngữ, hành động, chỉ biết chung là sự thiện ác nhiều ít sau khi tổng kết trong một tuần mà thôi.

«Có theo dõi như vậy mới biết bước đường tu học của mình tiến hay thoái. Nếu thấy thoái đừng buồn, đừng chán nản, cố gắng làm sao đẹp thêm hơn để số hột đậu đen càng ngày càng ít. Nếu thấy được tiến thêm, đừng vội tự đắc, tự phụ, tự cao, rồi khoe khoang sẽ tổn đức. Hãy hoan hỉ mà tiến thêm cho đến khi nào số hột đậu đỏ càng ngày càng tăng thêm nhiều hơn.

«Khi nào thấy ở hộp thứ ba, hạt đậu đỏ chiếm đại đa số, hãy hoan hỉ bước qua lãnh vực chờ đón tiếp nhận ân Thiên trong hệ thống giao cảm giữa mình và các bậc trọn lành.»

Sự tiến bộ của phương pháp ghi Vô Ngã Kiểm so với Công Quá Cách như ta thấy: Công Quá Cách quá chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (công coi như điểm dương, quá coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng hay hình phạt vô hình nào đó. Người tuân thủ Công Quá Cách (kể cả Kinh Cảm Ứng) dễ có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ «bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập» (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về). Trái lại, Vô Ngã Kiểm chú trọng đến sự triệt tiêu bản ngã đầy dục vọng thấp hèn nơi cá nhân nhằm tự nâng cao nhân cách và hoàn thiện lấy bản thân, hướng tới cảnh giới thuần chân vô ngã. Mà đó mới là cứu cánh đích thực của người tu tập.

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện/ ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người. Ở khía cạnh này, Công Quá Cách đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng những trường hợp ấy vẫn chưa được kể ra đầy đủ so với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng.

Vô Ngã Kiểm chỉ thích hợp cho những ai đã biết rõ ranh giới thiện ác trên một hệ giá trị mà thế tục và tôn giáo cùng chấp nhận. Thí dụ, lời nói thô tục chắc chắn là sái quấy, là ác, trong quan điểm thế tục lẫn tôn giáo. Nhưng đôi khi vì không kiềm chế được, ta lại buông lời thô tục. Trong trường hợp này, ghi dấu vào cột ác khẩu trong vô ngã kiểm, thì chính xác rồi. Ở một trường hợp khác, ta thốt lời vô tình (thí dụ, nói: «Nếu gặp phải tình cảnh đó thà chết còn sướng hơn.»), và nói xong thì quên đi, nhưng không ngờ gần đấy có người tình cờ nghe được. Giả sử người này vốn có nhiều mặc cảm tự ti và tinh thần đang suy sụp. Lời nói vô tình của ta tuy không nhắm vào người đó nhưng lại là giọt nước làm tràn ly sầu não của anh ta. Nếu nó không làm tâm hồn anh ta quằn quại đau đớn thì cũng dẫn đến một hành vi nông nổi rồ dại nào đó của chính anh ta (thí dụ anh ta đi tự tử). Tuy vậy, lời nói ác (một cách gián tiếp) của ta đã không được ghi vào vô ngã kiểm.

So sánh Công Quá Cách của Đạo giáo và Vô Ngã Kiểm của Đạo Cao Đài chúng ta thấy rằng: (1) Phương pháp tu dưỡng đạo đức từ xưa đến nay về cơ bản không khác nhau; (2) tinh thần chung của các phương pháp chính là sự tự kiểm điểm của từng cá nhân về ba phương diện thân, khẩu, ý; và (3) quả thực có sự tương quan về giáo lý giữa Đạo giáo Trung Quốc với Cao Đài giáo Việt Nam.●

LÊ ANH MINH

CHÚ THÍCH

[1] Phần này chủ yếu dựa vào Khanh Hy Thái 卿希泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo中國道教, Thượng Hải, 1996, quyển 2, trang 356-358, và Lý Cương李剛 Đạo Giáo Sinh Mệnh Luân Lý道教生命倫理, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 158-164.

[2] Thuộc Đạo Tạng道藏, bộ Động Chân洞真, loại Giới Luật 戒律.

[3] Tử phủ紫府: cung trời (heaven), cung tiên (the palace of the genii). Xem: Mathews’ Chinese-English Dictionary, Harvard University Press, 1971, mục từ 6954.

[4] Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘呂傳道集 do Lữ Động Tân 呂洞賓 ghi chép lời của Chung Ly Quyền 鐘離權 truyền đạo cho mình dưới hình thức vấn đáp. Sách xuất hiện cuối đời Đường, gồm 18 luận đề, là một cổ thư về luyện đan hết sức quan trọng.

[5] Tam đảo (hoặc Tam Tiên Đảo 三仙島 hay Tam Hồ 三壺) là ba đảo tiên ở Bột Hải 渤海 (theo truyền thuyết), gồm Bồng Lai 蓬萊, Phương Trượng 方丈 và Dinh Châu 瀛洲. Xưa kia Tần Thủy Hoàng 秦始皇 nghe lời mê hoặc của các phương sĩ như Từ Phất 徐芾 (hay Từ Phúc 徐福), Lô Sinh 盧生, Hàn Chúng 韓眾, và Hầu Công 侯公, v.v….. , đã hoài công sai họ và biết bao đồng nam đồng nữ cùng hàng nghìn người trai giới đem lễ vật vượt trùng dương tìm Bồng Lai Phương Trượng mà xin thần tiên thuốc trường sinh bất tử.

[6] Ngô Phong 吳楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 515 (Chú giải Thái Bình Kinh 太平經).

[7] Quan 鰥: kẻ góa vợ hoặc không vợ; quả 寡: kẻ góa chồng; 孤: trẻ mồ côi; độc 獨: người không con.

[8] Léon Wieger S.J., Histoire des Croyances religieuses et des Opinions philosophiques en Chine, Hien-hien 獻縣 (Hiến Huyện), 1927, tr. 579 (L’index des mérites et des démérites).

[9] Lão Tử nói: «Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín» 信言不美美言不信 (Lời đáng tin thì không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không đáng tin), Đạo Đức Kinh 道德經, chương 81. Khổng Tử nói: «Xảo ngôn lệnh sắc tiển hỹ nhân» 巧言令色鮮矣仁 (Kẻ nào lời nói hoa mỹ và bề ngoài kiểu cách ắt kém lòng nhân), Luận Ngữ 論語, Học Nhi 學而.

[10] Thánh giáo do Đức Quan Âm Bồ Tát giáng bút tại Minh Lý Thánh Hội, ngày 16/ 6 Canh Tuất (18/ 7/ 1970). Trích dẫn từ quyển Cẩm Nang Yếu Lý của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam, xb 1974, lưu hành nội bộ, tr. 108-113.

Posted in THAM KHAO | Leave a comment

TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH (IV): HỒI -DƯƠNG BIÊN HOẶC

  • HỒI -DƯƠNG BIÊN HOẶC
  • Trào Thanh Nhơn -quả Hồi -dương,
    Tự -Kỳ tâu hỏi, Minh -vương phán rành :
    Là vua Nhứt -điện U-minh (Tần -quảng -vương)
    Dạy việc tu hành chỉ nẻo siêu thăng :
    ‘ Ngũ -luân là đạo lẽ hằng,
    Tam cang, huynh đệ, hữu bằng năm phe,
    Thảo, ngay, chồng bảo vợ nghe,
    Anh em yêu mến bạn bè thiệt tin .
    1. TRUNG : Làm quan trung với triều đình,
    Quên nhà vì nước, quên mình vì dân,
    Công bình chẳng vị tư ân,
    Xứng ngôi chức phận, vẹn phần thanh liêm .
    Còn như dân dã trọn niềm :
    Lo xong xâu thuế, giữ nghiêm luật điều .
    Gìn lòng trung tín mến yêu,
    Không lời phạm thượng, giữ điều tôn quân .
    Khuyên người noi đạo Ngũ -luân,
    Sửa nền phong hoá, dạy lần ngu ngoan .
    2. HIẾU : Cha con đứng giữa tam cang,
    Đạo làm cha mẹ, dạy đàn trẻ thơ .
    Đừng cho hoang đảng bạc cờ,
    Nông thương nghề nghiệp, thi thơ học hành .
    Cưng hư thời uổng công sanh,
    Dạy nên là việc tu hành với con .
    Làm con chữ hiếu vuông tròn,
    Một lo thi đỗ, tông môn rỡ ràng .
    Hai lo thần tĩnh mộ khan,
    Giàu ra công khó, nghèo càng dưỡng nuôi,
    Kính thờ cha mẹ đồng vui,
    Hết lòng hết sức, lo nuôi lo đền .
    Thần mình cha mẹ gầy nên,
    Giữ cho toàn vẹn, như đền cù lao .
    3. HÒA : Thứ ba chồng vợ làm sao ?
    Chồng ra xử thế, vợ vào tề gia .
    Giàu nghèo cũng ở thuận hoà,
    Xướng tuỳ phải đạo, vào ra giữ lời .
    Phần chồng dạy vợ ở đời,
    Làm dâu vẹn thảo, đãi người trọn ân .
    Bạn dâu hòa thuận mười phần,
    Bà con yêu dấu, xa gần ngợi khen,
    Lòng chồng chớ ở bạc đen,
    Nhan sắc là hèn, đức hạnh là hơn .
    Chớ mê tiếng quyển tiếng đờn,
    Cũ vong mới chuộng, đèn hơn trăng lờ .
    Đàn bà giữ vẹn một thờ,
    Tháng đợi năm chờ, chồng chúa vợ tôi .
    Kinh chồng, hiền đức vô hồi .
    Sắt cầm hoà thuận, đắp bồi gia cang .
    4. ĐỄ : Thứ tư huynh đệ yêu đương,
    Ấy là chữ đễ, cũng ngang chữ hoà .
    Thịt xương một chỗ mà ra,
    Anh dầu bị khổ, em đà chẳng an .
    Em may anh nở lá gan,
    Anh mà đau nhức, em càng xót xa .
    Anh em yêu mến thuận hoà,
    Mẹ cha đẹp ý, ông bà mát gan .
    Mồ côi càng chạnh trăm đàng,
    Nhìn xem thủ túc, mơ màng xuân huyên .
    Thương anh như mến cha hiền,
    Nếu phiền huynh đệ, như phiền mẹ cha .
    Anh em ai dẫu bất hòa,
    Bị người đánh chửi, cũng ra binh liền .
    Bởi vì thiên hiệp tự nhiên,
    Anh em cha mẹ căn nguyên tại trời .
    Trời xanh không thế đổi dời,
    Khó tìm cha mẹ, không rời anh em .
    Vợ, con, người chọn mắt xem,
    Nối đây dễ quá, sanh thêm khó gì ?
    Ấy là nhơn hiệp lạ chi,
    Chớ khinh huynh đệ mà vì vợ con .
    Mẹ cha anh chị vuông tròn,
    Anh em bực nhứt, vợ con bực nhì .
    5. TÍN : Thứ năm bằng hữu trọn nghì .
    Giúp giùm sửa lỗi, yêu vì khuyên nhau .
    Nội nhà ngộ biến lòng đau,
    Có khi bằng hữu giúp nhau được toàn .
    Việc nhà khó nỗi trở đang,
    Có khi bằng hữu giúp cang đặng hòa .
    Vậy nên chỉ tín đừng ngoa,
    Càng lâu càng mặn, rán la rán giùm
    Chọn người tài đức yêu dùng,
    Khuyên lơn làm phải, chung cùng giúp nhau
    Năm điều vẹn giữ trước nhau
    Tu ròng ngũ đạt, đạo mầu nhứt tâm
    Năm điều giữ vẹn chẳng lầm .
    Thì là hành đạo phải tầm kiếm đâu ?
    Trẫm đà truyền đủ đạo mầu,
    Người khuyên thiên hạ rán tu cho thành,
    Ấy là chánh phép tu hành,
    Tại gia cũng đủ bao đành xuất gia .
    Gái trai lớn bé trẻ già,
    Sang hèn giàu khó đều là phải tu .
    Gồm tam giáo : Thích, Đạo, nhu (nho),
    Ai tu cũng đặng người tu thời thành .
    Làm người tùy sức tu hành,
    Cảnh nào cũng vậy lòng lành bấy nhiêu .
    Tuy giàu, nhưng khó chẳng kiêu,
    Dầu nghèo như khá, chẳng điều gian hung,
    Ở đời biết xét hay dung,
    Trị nhà nhẫn nhịn, đủ dùng tu thân,
    Sự nào mình phải mười phần .
    Xét ra còn lỗi một phân sửa liền .
    Việc chi người quấy cả thiên,
    Tìm ra lẽ phải không phiền chấp chi .
    Siêng làm ra của khó gì,
    Biết lo tiện tăn, mấy khi nghèo nàn .
    Gốc là Hiếu Đễ giữ ràng,
    Thảo cha kính mẹ, yêu đang ruột rà .
    Ở đời phương tiện mới là,
    Người lo chẳng tiện, ta thà giúp phương .
    Làm lành là gốc thiên đường,
    Tùy cơ bố thí chánh phương tu hành .
    Trọn đời như vậy là lành,
    Công đầy quả đủ thì thành chẳng ngoa .
    An chay niệm Phật thêm lòa,
    Bằng không cũng đặng theo khoa thánh thần .
    Tự -Kỳ còn ngại tâu rằng :
    ‘ Khó bề bố thí, vì thân nghèo nàn ! ‘
    Tần -quảng -vương phán rõ ràng,
    ‘ Nhiều phương bố thí, lắm đàng tế nhân .
    Trừ ra túng ngặt cơ bần,
    Mình đành thí của, cứu lần gian nguy .
    Chớ như đói khát một khi,
    Bữa cơm bát nước, tốn gì bao nhiêu ?
    Người đời lo sợ chít chiu,
    Mình khuyên bớt ngại cũng đều tế nhân .
    Người mê lầm lỗi cõi trần,
    Mình khuyên tu niệm đặng phần siêu thăng .
    Giúp điều phương tiện bủa giăng,
    Ra công, mỏi miệng, cũng bằng thí thiên .
    Người gây tụng, kẻ thù riêng .
    Giải hòa thôi kiện, răn khuyên hết rầy .
    Tuy nghèo thương chúng chẳng khuây,
    Cũng là bố thí lựa chi có tiền ‘
    Tự Kỳ còn ngại tâu liền :
    Sãi gọi tu thiền, niệm Phật ăn chay ‘.
    Đức vua Tần Quảng phán ngay :
    ‘ Bày ra niệm Phật ăn chay sửa lòng
    Ăn chay không ích Thế tôn (Thích -ca).
    Công chi với Phật, mà hòng ỷ chay ?
    Dẫu cho niệm Phật đêm ngày,
    Ích chi cho chúng, rằng hay tu hành ?
    Phép tu gốc tại làm lành,
    Đừng vương việc dữ thời thành xưa nay
    Dẫu cho niệm Phật ăn chay,
    Tránh làm lành dữ, tội đày đọa sâu .
    Mới giam mấy sãi chẳng lâu,
    Hòa thượng khẩn cầu, niệm Phật ăn chay !
    Lòng chẳng tịnh, tánh không ngay,
    Đời niệm Phật, ròng chay cũng cầm .
    Ngũ luân tu nhứt chẳng lầm,
    Chay bố thí, niệm thầm thứ hai
    Trí tại tâm, chẳng tại tài,
    Lòng chay khó lắm, miệng ngoài có chi
    Một đồng nhà khó thí đi,
    Phước ấy dám bì giàu thí một phiên
    Giàu sang một bữa chay tuyền,
    Cũng bằng nhà khó chay liền một trăng .
    Vì suy chỗ khó làm căn,
    Khó mà làm đặng, thiệt bằng lòng tu ‘.
  • GIÁC MÊ DIỄN CA
  • Từ mở mang trời đất những nay,
    Cũng có cuộc tang thương canh cải .
    Ngươn ba ngươn tuần huờn dựng lại .
    Hội mười hai cho đủ mới rằng .
    Cõi hồng trần còn hỡi lăng xăng,
    Người lành phải chịu bề cay đắng,
    Chữ tam đạt thì lòng phải gắng,
    Muốn lên bờ phải thác bến mê,
    Học Phật gia niệm chữ từ bi,
    Tu tiên đạo giữ câu cảm ứng .
    Trung thứ này cho là bằng chứng,
    Phật Thánh Tiên tam giáo một lòng,
    Dọn chông gai đường cả mới thông,
    Chịu tân khổ gọi là thượng trí
    Người trượng phu phải gìn tam qui,
    Đứng anh hùng đừng bỏ cửu tư,
    Đạo tiên thiên lập đảnh an lư,
    Hạng cũng có trong hư ngoài thiệt .
    Tánh tòng bá phải y một tiết,
    Nếu đổi dời khổ đọa trầm -luân .
    Nhắn với ai qui giới phải tuân,
    Một phen khổ muôn đời thong thả,
    Nợ tiền khiên buổi nầy phải trả,
    Nợ trả rồi vật ngoại thảnh thơi
    Mặc dầu trong trời đất vui chơi,
    Năm hồ rộng thần tiên thú lạ .
    Muốn nên mình phải bền chí cả,
    Công cho dày thì quả mới cao .
    Dốc lòng đền chín chữ cù lao,
    Hành chánh đạo dương danh hậu thế .
    Ấy vậy mới tứ ân bất phế .
    Hỡi đạo người đừng bỏ nghĩa nhơn,
    Làm sao cho tiệp thủy đăng sơn .
    Chữ Hầm cốc cùng ông Tương -Tử,
    Công danh lợi thì mình phải xử .
    Cuộc phù hoa nhắm cũng cheo leo,
    Tần -Thỉ -Hoàng tiếng hỡi còn nêu,
    Thâu lục quốc phàn sơ khanh sĩ,
    Núi Thú -dương Di -Tề danh để .
    Giữa một lòng tiết nghĩa mà thôi,
    Làm chi Tần -Ngụy cao ngôi,
    Thanh sử tạc muôn đời cho tệ .
    Đậu yên sơn ngũ chi đơn quế,
    Bởi vì chàng cải quá tự tân,
    Người đời lấy đức tu thân,
    Đừng học thói vua Tần mà bất nghĩa,
    Trắc ẩn chi tâm tùng thiên lý,
    Nỡ lòng nào giết vật cho đành .
    Người úy tử vật lại tham sanh,
    Gẫm người vật máu xương không khác .
    Thấy thửa sống không đành thửa thác,
    Lời Mạnh -kha sách để hẳn hòi,
    Xin hiền lương xét lại mà coi,
    Sao là phải, sao là chẳng phải .
    Sách có câu quá nhi tất cải,
    Tử -Lộ xưa nghe lỗi thì mừng,
    Võ -Vương làm thiên hạ chi quân,
    Còn phải văn thiện ngôn tắc bái,
    Nói ra thì tai nghe cũng trái,
    Bởi vì nhơn sự cách thiên cơ .
    Việc thị phi tai phải làm ngơ,
    Học Nhan -tử đai cơm bầu nước .
    Đạo muốn cao tỏ đường sau trước,
    Cách chỉ mành nào có xa đâu .
    Cõi nam đà mở rộng cửa lần,
    Đèn trí huệ hào quang chói chói,
    Thuyền bát nhã nghinh ngang bốn biển .
    Nước ma ha rửa sạch ba lòng,
    Rượu Quỳnh hoa mời khách tây đông .
    Ngựa không bóng rước người Nam Bắc,
    Máy sau lưng xảy bày trước mặt .
    Nửa hông nồi nấu khắp non sông .
    Muốn cho thấy đặng chủ nhơn ông,
    Non vô ảnh âu tâm mới hãn,
    Trong hang thần đừng cho gián đoạn,
    Độc mộc kiều có gã Quỳnh nương,
    Cõi nê hoàn mua rượu Quỳnh tương
    Đặng một chén uống thời bất lão,
    Việc tu hành phải suy mùi đạo .
    Nếu bơ thờ quả vị khó trông,
    Tiếng đờn thì tai lóng cho thông,
    Chơn như thể giai không ngũ uẫn,
    Thập tam ma khuyên đừng lấp lửng,
    Gươm huệ mài trừ nó mới an,
    Giảng cho thông tứ cú kim -cang,
    Thời mới thấy bổn lai diện mục,
    Tuy sắc thân hỡi còn ở tục,
    Lòng cho riêng mới gọi là thần,
    Ai còn mang những thói tham sân,
    E khó nỗi luân hồi lục đạo,
    Hoạ phước vô môn nhơn tự triệu,
    Muốn hi hiền phải liễu phàm tâm,
    Đạo Như-Li vô thượng thậm thâm,
    Biển cho lặng minh châu mới hiện,
    Ngọc cửu khúc gắng công giồi huyện,
    Tầm thư hùng hái nước non nam .
    Mười hai giờ quyền hộ phải tham,
    Thiên giao thời pháp luân thường chuyển .
    Rồng trên non cọp kia xuống biển .
    Đầy ba xe chở những vàng ròng,
    Làm sao rằng lôi phục thiên phong .
    Buôn sáu hiệp thâu vào lại gắn .
    Thuốc ba phẩm công phu luyện chính
    Muốn đơn thành văn võ phải toan,
    Ai dốc lòng đến núi linh san
    Đóng sáu cửa cho bền then khóa .
    Cửu cửu ma thử lòng vàng đá .
    Ấy mới rằng biết giả biết chơn .
    Thầy Huyền -Trang tiệp thủy đăng sơn .
    Trái tám mối Lôi Âm mới tới .
    Lòng Bồ -đề không dời không đổi .
    Tánh yêu ma còn tiếc nhục phòng,
    Bởi chưng qui gới chưa thông .
    Căn duyên nợ năm dây khó dứt,
    Đạo muốn cao phải bồi chí đức,
    Đạo đức toàn quỉ phục thần khâm .
    Trời đâu có phụ đạo tâm,
    Nghiệm kim cổ người lành mắc nạn .
    Việc tu hành phải soi cho rạng,
    Nếu không minh ắt chẳng đốc hành,
    Đạo Phật Tiên có chí thì thành,
    Người bao thuở thủy cầu chung đãi .
    Nương phép thuyền mà qua khổ hải .
    Sóng muôn trùng còn đoái làm chi .
    Bền một lòng niệm chữ A-di
    Sau cũng đặng thảnh thơi muôn kiếp .
    Máy quang âm lẹ thoi như nhíp,
    Người trăm năm chẳng khác chiêm bao .
    Cõi bờ này sóng bủa lao xao,
    Cuộc danh lợi gẫm như bọt nước,
    Đọc sách kinh nhớ người đời trước .
    Ông Thạch -Sùng giàu có muôn xe .
    Qua đời này tiếng hỡi còn nghe,
    Sao chẳng thấy mặt trường sanh thọ hưởng .
    Hàn -Tín xưa là mưu thần chi tướng .
    Cũng chưa nên mười mặt phô trương,
    Người ở đời lấy đó mà răn,
    Kim như thị cổ hà như thị .
    Xử thế phải biết liêm biết sĩ,
    Tu thân thời vô lự vô tư,
    An một lòng mau ốc thảo lư .
    Đừng học thói Triệu Tần mộ Sở .
    Đường Huỳnh -Đạo trời đà rộng mở .
    Khách Tây -du sớm nhớ quày đầu .
    Kiếp duyên khương sáu vạn dư niên,
    Dưng thiên mạng kíp truyền y-bát .
    Sông Ai-hà khuyên người kíp thoát .
    Khỏi lưới trần cực lạc cũng xinh .
    Cuộc diêm -phù nhiều nỗi nhục vinh .
    Không lại có, giàu sang dời đổi .
    Thú thảnh thơi màu thoàn quen dõi .
    Đất Bồ -đề sớm tối xuê-xoang .
    Chữ Danh lợi, sao bằng chữ nhàn .
    Cửa Bát nhã vào ra thong thả .
    Trống Đại Hùng đà thâu ý mã .
    Chuông linh sơn hỡi toả tâm duyên .
    Ngọc mu ni há dễ khinh truyền .
    Kinh Bạch tư dám đâu vọng triết .
    Địch không lỗ có duyên mới biết .
    Đờn không dây vô phước khó nghe .
    Rượu đề hồ chứa để đầy ve .
    Say một cuộc bất tri nhơn sự .
    Ngâm chỉ huyền say cùng ông Lữ .
    Đọc tỉnh mê say với ông La .
    Kim huỳnh -đình rảnh đọc năm ba .
    Vô bồng tháp buồn xem tạo hóa .
    Ngó Nam lãnh vui màu tòng bá,
    Nhìn Bắc Hà rùa cá lội vởn vơ .
    Chốn Đơn phòng tỏ nỗi huyền cơ .
    Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ .
    Có duyên gặp tam kỳ phổ độ .
    Muôn đời còn Tử phủ nên danh,
    Ba ngàn công quả đặng viên thành,
    Đơn thơ chiếu hiển vinh thiên tước .
    Chín phẩm sen vàng khai thấy Phật .
    Cữu huyền thất tổ đặng tiêu diêu .

    THẬP NGOẠT CA

    Hiệu đề thập ngoạt hoài thai,
    Tam niên nhủ bộ ai ai cho tường .
    Kể ra mỗi việc trăm đường,
    Nghe thời phải gắng cho thường chớ sai .
    Dặn dò già trẻ gái trai,
    Tưởng ơn cha khổ, nhớ hoài mẹ lao .
    Trước thưa anh chị nhậm ngôn,
    Sau cùng thiện tín bát phương đạo tình .
    Khá ăn chay niệm Phật tụng kinh,
    Tuân qui giới đền ơn thiênđịa
    Người trượng phu phải gìn chữ nghĩa .
    Đứng anh hùng trung hiếu đừng sai .
    Anh đừng quên thập ngoạt hoài thai,
    Chị phải nhớ tam niên nhủ bộ .
    Lòng tưởng tới cửu huyền thất tổ .
    Dạ khăng khăng báo bổ song thân .
    Làm sao cho báo đáp tứ ân .
    Lo những cứu tam đồ chi khổ .
    Ơn phụ mẫu sanh con quá khổ .
    Mẹ đặt con vào dạ thêm lo .
    Chín tháng trường chẳng dám ăn no .
    Năm canh ấy ngủ không ngon giấc .
    Chưn mẹ không rời dưới đất,
    Dạ cưu mang lật đật dám đâu .
    Tưởng chừng nào lụy nhỏ thâm bâu,
    Chạnh nhớ đến ruột đau từ đoạn .
    Việc sanh đẻ mẹ đà xuất hạng .
    Tán loạn lo sanh tử không chừng .
    Vì chậm sổ thời cha vái tưng bừng,
    Bằng trì huỡn phụ vào bái tử .
    Chốn ô uế đứng trong giường cữ,
    Cúi đầu chờ con sổ cho mau .
    Đến bây giờ phải nghĩ trước sau .
    Ơn nghĩa ấy tương rau cũng đáng .
    Huyết ô trì mẹ nằm một tháng,
    Bởi vì con, thịt nát dạ càng,
    Trên thời vầy nồi nước vung thang,
    Nơi phía dưới lửa vây hừng hực .
    Chịu cay đắng mẹ không than cực,
    Đạo làm con phải nhớ sanh thành .
    Thập ngoạt đà nhứt tử nhứt sanh,
    Tam niên ấy ốm gầy mình mẹ .
    Nuôi con trẻ không cho tiếng khóc,
    Hễ khóc lên lật đật chạy quay
    Công mẹ rày giặt rửa liền tay .
    Vì con trẻ bao nài khai thúi .
    Mới ngon giấc ỉa ra lụi hụi,
    Cha đốt đèn mẹ lại rửa trôn .

  • MƯỜI -CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH, TƯỢNG PHẬT
  • * Một là, những tội lỗi đã tao từ trước, nhe thì được tiêu từ . nàng thì chuyền thành nhe .
    * Hai là, thường được các thiên thần ùng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù,
    * Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này .
    * Bốn là, các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc hùm beo tránh xa không dám hảm hại .
    Năm là, tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộnh . Diện mạo hiền sáng, mạnh khoẻ an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt .
    * Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ gia đình hoà thuận, phước lộc đời đời .
    * Bảy là, lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen .
    * Tám là, ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khoẻ, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt . Nhâm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân .
    * Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy .
    * Mười là, hay vỉ tất cả chúng sanh trồng các cân lành . Lấy tâm cầu của chúng sinh làm ruộng phước điền cho mình . Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng . Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Phép, phước huệ rông lớn, chúng đạt lục thông, sớm thành Phật quả .

    ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY :

    Ấn tống Kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ tặt bịnh, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ Đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc .

    ẤN TỐNG KINH

    Chúng con góp lòng thành Tâm Ấn Tống 1000 cuốn Kinh Nhơn Quả, Nghiệp và Luân Hồi để cầu an và cầu siêu.

    Nam Mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật
    Nam Mô a Di đà Phật .
    Nam Mô đương lai hạ sanh di lặc Tôn Phật .
    Nam Mô Quang Thế Âm Bồ Tát .

    Cầu An

    Nguyện cầu hồng ân tam bảo . Thế giới Hoà Bình an lạc thịch vượng và Gia Hộ toàn thể thân bằng quyến thuộc Nội Ngoại, Ông Bà Cha Mẹ, Cô Chú Dì Dượng, Anh Chị Em con cháu Thân Tầm thường an lạc, Bồ đề tâm tân trưởng, Tu hành kinh tiến .

    Cầu Siêu

    Cầu nguyện Hồi hướng công đức đến bảy đời phụ mẫu và tất cả Chư Vong Linh đồng bào tử nạn khắp cõi hoàn cầu được siêu sanh tịnh độ .

    Nam Mô đại nguyện địa Tạn Vương bồ tát Ma Ha Tát .

    CÁC NGÀY KỶ NIỆM
    (Tính theo Âm-lịch)

    THÁNG GIÊNG

    Ngày 1.- Vía đức Di-Lặc .
    22.- Tổ Thập -Tháp (Phước -Huệ,chứng -minh Đạo sư Hội
    Phật -giáo Trung-Phần) viên tích .
    23.- Tổ Khánh -Anh (Thượng -thủ Giáo -hội Tăng-Già toàn
    quốc V.N. niên khóa II . Pháp -chủ Gióa -hội Tăng -già
    V.N. niên khóa II) viên tịch 30.

    THÁNG HAI :

    Ngày 8.- Vía Phật Thích -Ca xuất -gia .
    15.- Vía Phật Thích -Ca nhập – diệt .
    19.- Vía Phật Quán -Thế -Âm Bồ -Tát .
    20.- Vía Đức Phổ -Hiền Bồ -Tát .

    THÁNG BA :
    Ngày 16.- Vía Đức Chuẩn -Đề Bồ -Tát .

    THÁNG TƯ :

    Ngày 3.- Tổ Tuệ -Tạng (Thượng -thủ Giáo -hội Tâng già toàn
    quốc V.N. niên khóa I) viên tịch .
    04.- Vía Đức Vân -Thù Bồ Tát .
    15.- Vía Phật Thích -Ca Giáng -sanh .
    20.- Bồ Tát Thích Quảng -Đức vị pháp thiêu thân
    (nhằm 11-6-1963). 20.-

    THÁNG SÁU :

    Ngày 15.- Đại -Thích -Nguyên-Hương vị pháp thiêu thân
    (nhằm 4-8-1963).
    19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -Tát .
    19.- Tổ Khánh -Hòa (Sơ-tổ Phong-trào Chấn -hưng
    Phật giáo miền Nam) viên tịch .
    24.- Đại -đức Thích -Thanh-Tuệ vị pháp thiêu thân
    (nhằm 15-8-1963).
    26.- Thích -nử Diệu -Quang vị pháp thiêu thân
    (nhằm 15-8-1963).
    27.- Đại -đức Thích -Tiêu -Diêu vị pháp thiêu thân
    (nhằm 16-8-1963).

    THÁNG BẢY :

    Ngày 13.- Vía Đức Đại -Thế -Chí Bồ -tát .
    15.- Lễ Vu -Lan Bồn .

    30.- Vía Đức Địa -Tạng Bồ -tát .

    THÁNG CHÍN :
    Ngày 02.- Đại đức Thích -Quãng -Hương vị pháp thiêu thân
    (nhằm 5-10-1963).
    11.- Đại đức Thích -Thiện -Mỹ vị pháp thiêu thân
    (nhằm ngày 27-10-1963).
    19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -tát .
    30.- Vía Phật Dược -Sư .

    THÁNG MƯỜI MỘT :

    Ngày 01.- Tổ Huệ -Quang (pháp chủ G.H.T.G.N.V. niên khóa I)
    viên tịch .
    07.- Vía Phật -A-Di-Đà .

    THÁNG CHẠP :

    Ngày 08.- Vía Phật Thích -Ca thành đạo .
    08.- Tổ Vĩnh -Nghiêm (Thiên-gia Pháp -chủ Giáo hội Tăng –
    già BV) viên tịch .

    NHỮNG NGÀY TRAI

    Thập trai : Mổi tháng mười ngày :
    Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 .
    (nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27).
    Lục trai : Mổi tháng sáu ngày :
    Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 .

    Tứ trai : Mỗi tháng bốn ngày :

    Mồng 1, 14, 15, 30 .

    Nhị trai : Mỗi tháng hai ngày :
    Mồng 1, 15 .

    Tam ngoạt trai : Một năm ba tháng :
    Tháng giêng, tháng bảy, tháng mười .

    *** Những ngày trai không nên dùng các món
    gia-vị như : hành, hẹ, nên, tỏi, tổi tây v.v…

    *** Người tu hành ăn các món này thì tụng kinh
    trì chú không linh nghiệm và khiêu gợi dục tình,
    sanh thêm các tánh hung dữ .

Posted in THAM KHAO | Leave a comment

TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH (III): THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ (cấm phòng)

THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ
(cấm phòng)

Các vía lớn, ăn chay, hoặc ngủ riêng, khỏi tội đặng phước . Tuy không ăn chay mà ngủ riêng cũng quí hơn . Tháng nào nhuần thì theo tháng trước : Tháng giêng : Mồng 1 vía Di Lặc, Thiên-Lập, ngày cúng trời . Mồng 3 vía Tôn chơn -nhơn, tổ thuốc và Hát chơn nhơn, ông tiên . Mồng 6 vía Định -chơn -Phật . Mồng 8 ngũ điện, Giang- đông thần . Mồng 9 vía Ngọc -hoàng thượng đế . 13 Lưu -mãnh tướng quân . Rằm vía Thượng -nguơn, Thiên -quan đại đế . Hựu -thành Tịnh -ứng chơn quân . Từ mồng 8 đến rằm, các vị ấy đi dẹp yêu quái, ai ăn chay, ngủ riêng, tụng kinh, có phước hơn mấy ngày thường thập bội, 19 Khưu -trường Xuân, ông tiên, cũng tổ thuốc ông đặt chuyện Tây-du . Tháng hai : Mồng 1 vía Nhị – điện, Thái dương, Câu-trận . Mồng 2 vía Thổ địa chánh, Tử -đông Văn -xương (Tụng Bổn nguyện, Bảo sanh). Mồng 4 Táo tướng quân . Mồng 6 Đông-Huê đế quân . Mồng 8, Trương đại -đế, Tam điện, Thích -Ca xuất gia (tụng Kim cang) 13 vía Các -chơn -quan, tổ thuốc, Rằm vía Thái, thượng lão -quân (tụng Cảm ứng). Tinh -trung Nhạc nguơn-soái -17 vía Đỗ -tướng -quân . 18 Tứ -điện . 19 Quan -âm (tụng Phổ -môn, Cứu -khổ). 21 vía Phổ -hiền bồ tát, Thủy -long Thánh -mẫu nương -nương . 25 vía Huyền -thiên thượng -đế thánh -phụ Minh chơn -đế .
Tháng ba : Mồng 1 vía Nhị điện . Mộng 3 vía Huyền thiên thượng đế (tụng kinh Báo ân cho cha mẹ ). Mồng 6 vía Thượng lão tướng công, Nhạng hương . Mồng 8 Lục điện, 13 Trung ương ngũ đạo . Rằm Hạo thiên, Huyền đàn, Lôi đình, 16 vía Chuẩn đề Sơn thần, 18 Hậu thổ nương nương, Trung nhạc . 20 vía Tử tôn nương nương (bà chúa thai sanh). 23 Thiên hậu nương nương 27 vía Thất điện, 28 vía Đông nhạc đại đế, Khương hiệt (ông thánh chế chữ).
Thánh tư : Mồng 1 Bát -điện . Mồng 4 Văn thù bồ tát . Mồng 8 Thích -ca Phật tổ, Cửu điện, Doãn -chơn -nhơn . 14 Lữ -tổ, Thuần dương, Rằm Thích -Ca thành (tụng Kim -cang). 17 vía Thập -điện … 18 Tử -vi đại -đế . 20 Nhãn -quang thánh -mẫu . 26 vía Chung -san tướng công . 28 vía Dược -vương cổ Phật .
Tháng năm : Mồng 1 Nam -cực đại -đế . Mồng 5 Địa -lạp (cúng đất). Ôn -ngươn-soái, Đặng -thiên quân . Mồng 7 vía Châu -thái -úy . Mồng 8 Nam phương ngũ -đạo 11 vía Đỗ -thành -hoàng (cai trị các thành -hoàng). 12 Bỉnh -linh -công . 13 vía Quan thái tử . 14 rằm, 16, ba ngày kị thần (cấm phòng). 17 Trương -thiên-sư . 20 Phùng chơn -nhơn . 29 Hứa oai hiển vương .
Tháng sáu : Mồng 4 chư Phật giáng . Mồng 6 Thôi -phủ -quân . Mồng 10 Lưu -hải -thềm đế quân . 13 Tỉnh -tuyền Long -vương . 19 Quan -âm thành đạo 23 vía Quan -đế, Vương linh-quan . Hỏa -thần . 24 Lôi -tổ . 26 Nhị -lang 27 Thiên -xu tả tướng (châu tử).
Tháng bảy : Mồng 7 Đạo -đức -lạp (cúng thần tiên), Ngưu -lang Chức -nữ . 12 Trường -chơn, Đàm chơn -nhơn . 13 Đại -thế chí bồ tát . Rằm Trung -nguơn, Địa quan đại đế . Linh -tế chơn quân . 18 Diêu -trì Tây -vương -mẫu nương nương . 19 Trị -niên thái -tuế (An giao). 21 Phổ -am tổ sư, Thượng nguơn đạo hoá . Đường chơn -quán . 22 Tăng phước tài thần, 23 Thiên -xu thượng -tướng chơn -quân (Gia -cát). 24 Long -thọ -vương bồ tát .30 Địa -tạng -vương bồ -tát (U -Minh giáo chủ). Tháng tám : Mồng 1 Thần -công Diệu -tế Hứa -chơn -quân . Mồng 3 vía Táo -quân (mồng 3 với 27 Bắc -đẩu giáng hạ phải cữ)
Mồng 5 Lôi -thinh đại -đế . Mồng 10 Bắc -nhạc đại -đế . 12 Tây -phương ngũ đạo Rằm thái -âm triều nguơn (tụng Thái -âm), 18 Tửu -tiên (Lý -thái -Bạch). 22 Nhiên Đăng Cổ Phật . 23 Phục -ma phó -tướng Trương -hiên -vương (ông Trương). 24 Táo -Mẫu (bà Táo .)
Tháng chín : Mồng 1 Nam đẩu giáng hạ (Từ mồng 1 đến mồng 9, 9 sao). Mùng 3 Ngũ ôn . Mùng chín Cữu thiên huyền nữ . Phong đô đại -đế . 16 Cơ thần . 17 Kim Long tự đại lương, Hồng ân chơn quân . 23 Tát chơn nhơn . 26 Ngũ hiển linh quan . 30 Dược Sư Phật .
Tháng mười : Mồng 1 Dân tuế lạp, Đồng hoàng . Châu chơn quân . Mồng 3 Tam mao ứng hoá chơn quân . Mồng 5 Đạt ma sư tổ . Mồng 6 Thiên tào chư tư, Ngũ nhạc Ngũ đế giáng hạ . Mồng 8 vía chư Phật hội niết bàn, phóng sanh có phước thập bội . (Nếu ngày mồng 8 tháng 10, làm một tội nặng bá bội ngày thường). Rằm Hạ nguơn Thủy quan đại đế, Đậu thần : Lưu sứ giả . 20 Trường hư Tịnh thiền sư . 27 Bắc cực Tử vi đại đế .
Tháng mười một : Mồng 4 Đại thánh chí thánh Văn tuyên vương (Khổng tử). Mồng 6 Tây nhạc đại đế . 11 Thái Ất Cứu khổ thiên tôn . 17 A di đà Phật (tụng Di đà). 19 Nhựt quang thiên tử, Cữu liên bồ tát . 23 Nam đẩu giáng hạ, Trương tiên, 26 Bắc phương ngũ đạo .
Tháng chạp : Mồng 1 Tiên phật giáng hạ (tụng kinh phước hơn nhiều). Mồng 8 Vương hầu lạp, Trương anh Đế, Thích Ca thành Phật (tụng Kim cang). 16 Nam nhạc đại -đế . 20 Lỗ ban . 21 Thiên du thượng đế . 24 Tư mạng Táo quân chầu trời (tối 23 cúng đưa trước). 29 Hoa nghiêm bồ tát . 30 Chư Phật giáng thế xét lành dữ .
Mỗi tháng mồng 8, 14 ; rằm, 23,29, 30 Bắc đẩu giáng hạ, ăn chay tụng kinh .
Tùng nhiên hòa thượng ở chùa Thiên thai đặt bài khuyên thế .
Người đời chẳng tin nhơn quả báo ứng, nên có kẻ số thọ mà yểu, số giàu mà nghèo, tướng làm quan mà thi rớt ! Sách Bửu giám nói :’ Lành thì trả lành, dữ thì trả dữ : nếu chưa trả, tại ngày chưa đến ‘. Lại có bài thơ rằng :
Trời sanh khó dối bởi không tây (tư -vị).
Mới tính thần hay nạp sổ nầy .
Lành dữ rốt rồi đều trả quả .
Chẳng qua đều kíp với đều chầy .
Kinh Nhơn quả nói ;’ Phỏng kiếp trước dữ lành, coi đời nầy hoạ phước . Độ kiếp sau hoạ phước, tại đời nầy dữ lành ‘. Lại nói rằng :’ Dầu làm dữ mấy kiếp, cũng trả cho mình ‘. Kinh Niết -bàn nói :’ Quả báo có ba cắch ! 10 Hiện báo, làm lành dữ đời nầy, trả phước họa cũng nội đời nầy ; 20 Sanh báo : kiếp trước làm, trả kiếp nầy, đời nầy làm, trả đời sau ; 30 Tốc báo : mới làm lành dữ, trả phước hoạ nhãn tiền, trước mắt tức thì ‘. Phải biết trời đất không tư vị ai, tại mình làm lành dữ nặng nhẹ, nên trả mau chậm khác nhau . Người đời khó hèn, điếc câm đi nhót, gãy tay, tật nguyền bịnh trời cho, đói lạnh, đều tại kiếp trước hưởng xài quá lẽ, làm dữ phạt nội đời ấy chưa hết kế tới số chết, nên đầu thai kiếp nầy phải phạt thêm cho đủ tội, Như vậy mà không tin nhơn quả báo ứng làm sao ?
Người đời những kẻ không tin địa ngục, đến gần chết hay thấy ma quỉ, hoặc nghe tiếng binh khí, xiềng tỏa mới tin có quỉ thần địa ngục, liền van vái cầu thần . Té ra đèn giữa gió, gần tắt, ăn năn muộn sao kịp, khó trốn quỉ Vô thường . Quí tại ăn năn cho sớm, tỉnh lại mà tu, gần chết mới sợ vô ích .
Đời Tùy vua Khai hoàng, có quan tự thừa Triệu văn Xương chết đi sống lại nói rằng :’ Hồn xuống âm phủ thấy Châu Võ đế bị xiềng ba lớp tại phòng, kêu Xương lại mà nhắn rằng :’ Khanh về tâu với Tùy hoàng đế rằng : các tội trẫm cãi lẽ xuôi hết, còn một tội hủy Phật nặng lắm, mau làm phước bố thí, tụng kinh mà cầu cho trẫm khỏi tội ,’ Xương ra ngoài thấy một người dưới hầm phẩn ló đầu lên, hỏi ai đó ? Người ấy đáp rằng :’ Ta là Bạch -Khởi, tướng mạnh đời Tần ‘.
Sách Danh thần ghi :’ Kinh Công có tên con Phương dữ lắm, xúi Kinh Công làm nhiều điều trái lẽ . Đến Phương thác, Kinh Công mơ màng thấy Phương mang gông đứng dựa cửa . Kinh Công sửa nhà làm ra kiểng chùa, bố thí tụng kinh cầu Phương khỏi tội ‘. Lấy sách nho đó làm chứng, đủ tin Ngọc lịch, thì khỏi khổ phần hồn, Ông Tư mã Ôn công nói :’ Trên có Thiên đường . Người quân tử thác rồi, lên Thiên đường, dưới có Địa ngục, tiểu nhân thác rồi hồn sa Địa ngục .’ Sao gọi không Thiên đường Địa ngục ?

  • Đoan sơn đại tiên là ông Vương chương, đặt kinh thế lục rằng :’ Thiệt quả có Địa ngục . Bởi người tính lành, thì thuộc dương sáng, nên khí thanh lên thiên đường . Còn lòng tính dữ, thuộc âm tối nên khí trược xuống Địa ngục . Diêm quân tra hỏi, hành tội mổ bụng rút ruột, đốt cháy nấu dầu là tại lòng chứa dữ ‘.
    Người đời không tin thác rồi đầu thai . Như kẻ không con, cưới vợ bé nhiều cũng vô ích, vì không thai nghén hoặc có nghén bị tử phúc trung, hoặc chết theo mẹ, không thì nuôi lớn chưa kịp có con mà chết yểu, thì cũng vô hậu, những kẻ ấy thiệt là vô phước lắm . Nếu vợ chồng có con sum hiệp đến già, tuy khó hèn cũng là có phước nhiều ít mới đặng vậy .
    Sách danh thần nói :’ Mẹ ông Phạm -tổ -Võ, lúc gần sanh ổng, chiêm bao thấy người cao lớn xưng mình là Đặng -Võ tướng quân đời Hán, thức dậy sanh con trai mới đặt tên Tổ -Võ . Đến lớn ở thuần lắm, nên đặt tự Thuần -Phu ‘.
    Còn sách Tự -Loại, sách Mông -Cầu, có ghi tích Dương Hộ sanh ra, mà nhớ chiếc vòng kiếp trước . Bảo Tịnh nhớ cái giếng kiếp trước . Con gái Hướng Tịnh chết non . rồi đầu thai lại nữa, nàng nói chuyện kiếp trước không sai . (Con ranh con lộn mà nuôi được ). Ngươi Văn Thẩm sống lại nhập vào xác khác . Những tích ấy đều tại sách Nho, sao không tin luân hồi đầu thai kiếp khác .
    Phàn người lành, đầu thai nhà giầu sang có đức mà hưởng phước . Công quả bằng nhau đầu thai nhà tầm thường . Công ít quả nhiều, đầu thai nhà rủi ro, hèn khó mà trả quả . Như trong Ngọc lịch nói :’ Thử lòng kẻ ấy, còn làm dữ nữa, không biết ăn năn mà làm lành, Thác Địa ngục làm con Tích, đầu thai làm thú vật, nếu về hoá sanh lộn mãi, hết trông làm người ‘.
    Bà Diệu Huệ chơn nhơn (bà thân ông Văn Xương) nói :’ Con người ở đời, sống thác không nhứt định, ở tạm rồi đi, như trăng tròn khuyết, như hoa nở tàn . Ngày nay mới sanh là hồn chết kiếp trước lộn lại . Nếu thân trước chưa thác, thì hồn ấy có lộn vào xác nầy mà sanh ra đâu . Nếu ngày nay đến chết mà biết mình tội nhiều, thì trông chi đầu thai tử tế .
    Người đời chẳng tin thác rồi đầu thai làm thú vật . Sách Nho biên sự đầu thai ấy rất nhiều, chẳng phải một tích . Sử Tùy thơ, Lý sĩ Khiêm nói :’ Ông Cổn là cha Địa Võ, hoá làm con cua đinh ba cẳng, gọi là con ba ba, Ngươi Đỗ Võ hóa làm đề Quyên là con quốc . (Nên chim quốc tên là Đỗ Võ Đỗ Quyên). Bao Quân hóa rồng . Ngưu Ai hóa cọp, Bành Sanh hóa heo rừng . Như Y hóa chó . Huỳnh Mẫu hóa vịt, như càng thay lớn lắm . Tuyên Võ hóa trạch (cua đinh, tục kêu là cá giải). Đặng Văn hóa trâu . Từ Bá hóa cá . Kim Hạ hóa quạ, Thơ Sanh hóa rắn ‘. Các điều đó biên nơi sách Nho, sao mà không tin ?
    Đức Thánh Khổng -tử nói :’ Sanh ra đến già phải thác, làm người chẳng sống đời, nếu theo dữ bỏ lành, sao khỏi làm loài khác ‘. Kinh Lăng Nghiêm nói :’ Người thác làm dê, dê thác làm người ‘. Phổ Am tổ sư đặt bài kệ rặng :’ Súc sanh bổn thị nhân lai tác, nhân xuất luân hồi cổ đáo câm, Bất yếu phi mao tinh đái giác, khuyến quân hưu sử súc sanh tâm ‘. Nghĩa là : người lộn súc sanh cũng tại tâm, xưa nay người vật chuyển luân thầm . Muốn không đội gạc mang lòng xấu, khuyên chớ làm theo dạ thú cầm .
    Ông Tịnh Trai học sĩ nói .’ Thông minh bất năng địch nghiệp, phú quý, khởi miễn luân hồi ‘. Nghĩa là : Khôn lanh khó chữa tội, phú quý cũng luân hồi .
    Ông Hồng Mai nói :’ Hay coi thọc huyết heo, làm thịt dê, sau gần chết la như tiếng heo dê kêu vậy, có khi chết rồi đầu thai làm chim, cho người mua mà thả . Nếu đàn bà hay coi sát sanh dê heo lắm, có khi đẻ ra đầu dê, hoặc mình rắn, hoặc trứng như trái cầu (đẻ bọc) ‘. Cứ theo lời ấy, người ta còn đẻ súc vật côn trùng, hoặc đẻ trứng, huống chi thác rồi đầu thai làm súc vật, mà gọi không lẽ . Bởi luân hồi mà trả nợ thường mạng, là nhơn quả xoay vần . Khuyên đời đừng gọi mắt chưa thấy nên chẳng tin, cứ làm dữ mãi (tin tại phải lý, lựa chờ mắt thấy, đợi mắt thấy đà chết rồi còn gì ! ).
    Xưa có kẻ hỏi thầy Trình -tử rằng :’ Phật nói chết rồi đi đầu thai nữa, sự ấy thấy thiệt chăng ? Thấy Trình -tử nói :’ Sử ấy nói có nói không cũng khó hiểu . Song xét lời đức thánh Khổng -tử dạy rằng :’ Vị tri sanh, yên trí tử ‘ (chưa biết sự mới sanh đâu biết sự thác rồi), do một câu ấy thì đủ hiểu rồi ‘. Coi Trình -tử và ông thánh đời Tống ; mà chưa dám gọi không luân hồi đầu thai . Còn xét lời nói đức thánh Khổng -tử, đâu biết việc thác, thì sự luân hồi đầu thai không phải huyễn .
    Ông Châu -liêm -Khuê tự Mậu -thức, là thầy hai ông Trình -tử, Trình -Hi, Trình -Hạo, ( Y Xuyên với Minh Đạo ). Khi ấy ông Châu -liêm -Khuê hỏi thầy Huỳnh -Long-Nam thiền -sư rằng :’ Chẳng hay đạo Phật có dạy sự nhiệm mầu riêng hơn đạo nho chăng ? ‘ Huỳnh -Long Nam thiền -sư nói :’ Thầy hãy xét các câu sách nhà nho của thầy như đức Khổng -tử nói :’ Triêu văn đạo, tịch tử khá hỉ ‘ Nghĩa là ‘Sớm mai nghe thấu mùi đạo, chiều thác cũng đành ‘. Xét đạo ấy nghĩa là chi ? Còn ông nhan -tử không đổi sự vui, là vui việc gì ? Xét ra lý hai câu ấy, lâu lâu mới biết hiệp cái nhiệm mầu của đạo Phật, chớ không chi lạ mà hỏi ‘.
    (Đạo là thông hiểu sự phải, chắc ý mà làm, chẳng hồ nghi chi hết, vì biết số mạng trời định, cứ phải mà làm, tố nào theo tố nấy, chẳng phải rán cượng cầu mà đặng, nên đức Khổng -tử nói :’ Nếu cầu đặng sự giàu, tuy ra sức mệt nhọc, làm việt hèn hạ như kẻ đánh xe, mà đặng giàu ta cũng rán chịu cực chịu nhục mà làm cho giàu . Nếu tại số trời định, có cượng cầu cũng vô ích, thì thà an phận mà theo tố, là chỗ ưa của ta ‘. Nên ông Nhan -tử thông mùi đạo, cứ giữ đức hạnh học hành sửa mình gọi là vui theo tố bần tiện, chớ không rầu buồn sự nghèo khó, nên sau ngày mãn phần làm chức Tu -văn -Lang tại Âm phủ cũng đồng liêu với thầy Tử -Hạ . Đức thánh Khổng -tử cũng nói :’ Thực sơ phạn, ẫm thủy, khúc hoăng nhi chẩm chi, lạc tại kỳ trung hỉ . Ăn cơm rau, uống nước lã, co tay làm gối nằm, ngài cũng vui vậy, là tại biết đạo, biết mạng, tố nào theo tố nấy .’ Quân tử vô nhập, nhi bất tự đắc ‘. Người quân tử không gặp cảnh nào mà chẳng vui, bởi vậy ngài mới thành thánh . Người đời không biết đạo, lòng tham vọng tưởng, cượng cầu cực khổ, không lợi lại bị hại, mau chết mà mắc tội nhiều, hại tới thân kiếp sau và để họa cho con cháu .
    Người đời xem Ngọc -lịch mà nửa tin nửa nghi, chưa dám đoán chắc là tại học chưa đủ lý ; té ra gặp phước mà bỏ qua . Nếu hiểu nhơn quả đời trước làm lành dữ, đời nay chịu phước họa . Đời nay làm lành dữ, thì kiếp sau chịu phước họa mà còn nghi chi nữa ? Nay nhờ ơn trời, nhậm lời Thập vương chư thần, cho truyền Ngọc lịch đủ bằng chứng khỏi nghi, cũng như tích Lâm -tự -Kỳ sống lại, ghi lại cuốn Hồi -dương nhơn -quả thì mau ăn năn làm phước chuộc tội nếu đợi gần chết ăn năn sao kịp ?
  • TÍCH TRUYỀN NGỌC LỊCH MÀ CỨU HỒN MẸTỉnh Tứ Xuyên, thân Dậu đường, ông Viện- cẩn- An mãn phần, để một trai lại, tên là Dức- Sơ mới bảy tuổi. Vợ Cẩn An là Thiệu- thị thương con ốm yếu, nghe lời họ bày phép bổ nguơn , mỗi ngày dùng gà mập, nấu lấy nước thịt gà làm canh cho con ăn cơm. Nên mua gà nhiều lắm, đào trùng dế, nuôi cho mập đặng nấu cho con ăn. Dức-Sơ 15 tuổi Thiệu- thị bịnh ghẻ đau nhức cùng mình, như dế
    cắn gà mổ, mà cũng còn nhắc đầy tớ gái, làm gà cho con ăn. Đức-Sơ hiểu ý liền
    cản cấm không cho làm gà nữa. Thiệu thị đau bảy năm, gần chết làm gà gáy , dế kêu, cào rách mình mà chết ! Đức-Sơ khóc kể vì mẹ thương mình, nên sát sanh mới bị quả báo, liền thề cữ sát sanh Cách một năm có nàng Ning-Cô là chị con nhà bác, gả cho Tiền bị đẻ mà chết. Hồn xuống Nhựt-điện, vua xem bộ phán rằng :’ Nàng nầy tội nhiều, đáng bị sản nạn, giao qua Nhị-điện hành hình ‘. Phán quan tâu rằng :’ Viện-ninh-Cô có khuyên cha mẹ chồng đừng đốt cây khô nhiều kiến, đã ba lần. Lại khuyên chồng khắc in van giới sát
    cho người 5000 tờ và phụ in kinh Quan-âm phóng sanh văn 3000 tờ. Táo quân tâu Thượng-đế cho sống thêm 30 năm nữa. Vua Nhứt-điện đứng dậy phán rằng :’ Lành thay !’ Liền sai kẻ áo xanh cầm phướng đưa hồn về. Ra tới cửa ngõ đỏ, có thắp đèn vàng, nghe tiếng kêu rằng :’ Ninh-Cô cứu ta với !’ Ninh-Cô ngỏ thấy thiếm là Thiệu-Thị đầu tóc chôm bôm, mình máu lội bộ, chạy theo khóc rằng :’ Cháu sống lại nói cho con ta hay, rằng ta bị khổ dưới âm-phủ bảo làm phước mà chuộc tội cho ta, nếu khỏi tội, ta về cho chiêm bao mách bảo trả lời. Xảy thấy quỷ tóc đỏ cầm chĩa đâm họng Thiệu thị mà dẫn đi, Ninh cô sống lại, thuật chuyện… Đức sơ hay, liền lạy Phật làm chay, tụng kinh tới 19 năm mà không thấy chiêm bao. Cưới vợ là Thi thị, cũng cữ sát sanh. Sau thấy kinh Ngọc Lịch, Đức Sơ nguyện sao tả cho người đặng chuộc tội mẹ. Mới tả được 120 bổn lẻ, cho mới được 108 cuốn. Nhằm niên hiệu vua Càn-long trào Thanh, là năm canh ngũ, đêm rằm tháng giêng, chiêm bao thấy Thiệu thị về vỗ lưng con mà khen rằng :’ Con thiệt có hiếu. mẹ ra khỏi ngục, nhờ phát Ngọc lịch 49 người hồi tâm, vua đà tha tội, lại cho về mách bảo con hay, hồn mẹ được về ở tại mã, giờ tý ngày 18 nầy, sẽ đi đầu thai hưởng phước. Còn con cũng đặng sống lâu nữa ‘.

    Đức Sơ hỏi :’ Cha tôi bây giờ ở đâu? ‘ Thiệu thị nói : ‘ Đầu thai đã lâu, lại chú giải kinh Nhơn quả với Thiệu thơ, nên thi đậu làm quan và mạnh khoẻ ‘. Đức Sơ hỏi :’ Ở tại xứ nào? ‘ Thiệu thị không nói, xơ Đức Sơ thức dậy. Đức Sơ thuật chuyện cho vợ nghe…Thi thị nói :’ Tại mình mơ tưởng sao tả Ngọc lịch nên chiêm bao thấy vậy ‘. Sáng Đức Sơ dọn đồ ăn bưng tế mã mẹ và đốt giấy áo, vàng bạc, vái rằng :’Nếu mẹ cho con thấy chiêm bao nữa, thì con mới tin chắc ‘. Đêm ấy, Đức Sơ thấy Thiệu-thị về điểm mặt Thi-thị mà mắng rằng :’ Mầy ghét chồng sao Ngọc-lịch nên mầy xé năm cuốn, thiếu chút nữa mà hại ta ! Lại nói cho chồng không tin điềm thiệt, mầy sẽ mắc họa bây giờ ‘. Đức-Sơ giựt mình dậy hỏi vợ, sao mình xé 5 cuốn Ngọc lịch. Thi thị nói: “Đừng có nói yêu nói ma, có ba điều không đáng tin lắm : 1. Cữ sát sanh, không cho đồ sống vô nhà, như sãi vãi một thứ; 2. Đêm nào ngày nấy, thầy sãi tụng kinh hơn hai mươi năm mà cũng còn mắc tội dưới âm phủ ! Giá gì sao mấy bổn kinh mà phước nhiều vậy? Còn tin là nghĩa gì? 3. Nói tôi xé 5 cuốn, sao mình không nghĩ? Mình viết rồi cất vô tủ khóa lại, tôi làm sao mở đặng mà xé, còn tin nỗi gì? Chẳng phải thiệt hồn mẹ về mách bảo đâu ! Ấy là mình vọng tưởng mà thấy bậy, e không bao lâu, sẽ điên cuồng mà chớ !” Đức Sơ nghe nói lưỡng lự, vì cũng phải lý dễ nghe. Đêm 17 qua ứng mộng bên nhà em
    Thi thị và ứng mộng nhà cháu là Ninh-Cô, rồi ứng mộng dâu con mà mắng rằng :’ Mồng sáu tháng bảy năm ngoái Châu-phụng-Cô là gái xóm nầy vào nhà ngồi chung với mầy mà thêu giày, mầy có lấy một cuốn Ngọc lịch để trong rổ may. Đêm sau mầy giận chồng mầy không cho Phụng-Cô vô nữa, nên
    mầy xé 5 bổn Ngọc lịch. Bữa sau em mầy là Thị-Phúc đến thăm, thấy kinh rách, năn nỉ xin về đóng lại dán lại viết vô mà cho người, Âm phủ đã ghi phước cho Thị-Phúc. May sao con ta để vô tủ mà khóa, phải không thì mầy cũng xé nữa ! Nay lại chối lức đặt chuyện ba điều không đáng tin, tội già làm nặng lắm. Táo thần với Thổ địa đã chịu cho tà quỉ vô nhà hành mầy chạy đâu
    cho khỏi họa !’ Nói rồi xô đổ bàn để đồ trang điểm một cái rầm ! Vợ chồng giựt mình thức dậy ! Đức -Sơ hỏi vợ tin không ! Thị-thị nói : Ai tin thì gọi có, ai không tin thì gọi không ‘. Xảy thấy một đống khói đen bay vô cửa phòng ! Thị thị rùng mình, ngó chồng mà nói rằng :’ Mình tả thêm ít cuốn nữa, thà tin là có, chớ gọi là không ‘. Đức Sơ biết vợ có xé kinh thiệt, nên mới nói như vậy. May mẹ đã đầu thai, nên tin chắc, thôi cậy sãi tụng kinh nữa, quyết lòng tả Ngọc lịch làm phước.
    Đêm ấy Thi-thị phát óng, lưng vai đau nhức như đánh như dần. Rước thầy thuốc coi mạch. Thầy thuốc nói :’ Ấy là âm độc làm ghẻ ác, phần thím có thai, nên không dùng thuốc nóng mà trị, thế phải chịu phép !’ Đức Sơ rầu lắm. Kế em vợ là Thị Phúc ghé. Ninh-Cô cũng đến thăm, đồng thuật chuyện chiêm bao, bảo Dức-Sơ van vái. Đức Sơ vào bếp, vái ông Táo, nguyện tả một trăm bổn Ngọc lịch mà cầu cho vợ mạnh. Thi thị đương nóng mê, vùng dậy quì dưới đất, lạy khan mà nói rằng :’ Từ rày sắp lên, tôi tin Ngọc lịch, tình nguyện bán hết đồ nữ trang mướn tả Ngọc lịch, cho người mà chuộc tội ‘. Xảy thấy ông đội mão thất tinh, bận áo đen, đuổi đống khói đen dưới giường lăn ra bay ra mất. Thi-thị bớt nóng hết sưng lưng vai (chứng phát-bối). Bữa sau sanh con trai, mẹ con mạnh khoẻ. Nội trong hai tháng, vợ chồng mướn nhiều người tả đủ một trăm bổn Ngọc-lịch cho người. Bởi vợ chồng cám ơn thần, nên biên sự tích vào đây mà khuyên đời, không dám giấu sự lỗi.

  • BỞI CHÊ NGỌC LỊCH BỊ PHẠT NHÃN TIỀNPhan ngưỡng Chí là học nho, không tin Ngoc lịch, viết bậy vô mà kiêu ngạo. Phê tại câu :’ Đâu thấy hồn ma mang gông ‘. Đề ba chữ son rằng :’ Thị chi chỉ ‘. (rất phải lắm). Bởi mực mấy bài từ Nhứt điện tới thắt điện. Tại Ngũ điện lấy son gạt tréo. Trên câu nói :’ Uống rượu lảng phí, ‘ nó đề hai chữ son lởn. ‘ Khả tiếu ‘ (Tức cười quá !). Chỗ Thập điện nói câu :’ Đàn bà con gái bị học trò gật nên thuận theo thất tiết… ‘ Nó đề II chữ mực : ‘ Phụ nữ tự kỉ tầm tử, dữ nam tử hà thiệp?’ (Tại phụ nữ liều mình, đàn ông có can cớ gì ?’ Chỗ nói đầu thai, nó đề hai chữ son :’ Loạn họa !’ (nói bậy !) Chỗ Mạnh bà, mấy câu ấy, nó chấm mực vài hàng. Trên bốn chữ ‘ Khổ căn nan đoạn ‘ ( còn đầu thai cõi trần cực khổ ) nó khuyên son trết ! Tới câu :’ Làm hồn ma mang thây nữa,’ nó khuyên son 9 khuyên. Từ ấy sắp sau, chỗ bôi chỗ gạt tréo, cho tới chỗ câu : ‘ Hào quang chiếu sáng, Quan âm giáng hạ,’ nó vùng phát điên. Nửa đêm nó mở cửa chạy ra phố chợ , hai tay chống đất, bò càng, lật phao tay đổ máu, trầy đầu gối lả giò, bò một hồi làm như bị trói cẳng, mọp đó la lớn rằng: ‘ Bớ con ơi ! ! Mau đem cuốn kinh Ngọc lịch ra đây, đặng đưa cho lối xóm, đem cúng trong chùa Tây Nhạc đại đế ‘. Con nó về lấy kinh trao cho xóm, trở vô thấy nhà phát hỏa, cóng cẳng chạy ra không kịp nên bị chết thiêu ! Nó nóng họng chạy về chữa lửa, thấy vợ nó là Hoăng thị lõa thể (trần truồng) chạy ra, Ngưỡng Chí mắc cở nói với xóm rằng : ‘ Người đời đừng bắt chước tôi ở độc nhiều năm, nay thấy Ngọc lịch, còn không tin mà chừa lỗi, lại phê ngạo nhiều câu, nên bị trời phạt nhãn tiền độc quá ! ‘ Nói rồi lửa cháy tới, cứng cẳng chạy không đặng, phải bị chết thiêu. Bầy chó nhảy vô kéo thây ra, xé ăn tới xương cốt ! Xóm coi thấy phê trong Ngọc lịch như vậy, ai cũng rùng mình ! Mới biết tại tội nặng quá, nên trả lẹ lắm ! ! ! Còn vợ nó mắc cở trốn xứ nào bặt tin không biết !
  • GANH GHÉT MUỐN DẸP NGỌC LỊCH BỊ BÁO NHÃN TIỀNTại xứ Tây hương, chùa Thổ cốc (ông Trương), có một sãi, tên Đạt Viễn, đặng cuốn ngọc lịch, cầm qua am Thuần dương mà coi với đạo -sĩ (thầy pháp) tên Quán-Tiên. Hai thầy coi tới chỗ thầy chùa thầy pháp ăn tiền tụng mướn mà tụng sót, thác sau phải vào sổ Bổ kinh mà tụng bổ, vân vân. Lại coi tới chỗ luân hồi, nói thầy chùa thầy pháp có tội nhiều, các ngục hành hình không đặng, phải cho uống thuốc mê, đầu thai tử phúc trung, hoặc chết yểu nhiều kiếp, cho lú quên hết kinh chú, rồi mới hành hình, vân vân. Đạt -Viễn nói : ‘ Chúng ta nhờ cậy tụng kinh mướn mà khá, nếu Ngọc lịch lưu truyền nhiều chỗ, thì nghề làm ăn chúng ta phải ế ! Dầu xé đốt Ngọc-lịch cũng không hết đặng, biết tính làm sao? Quán-Tiên nói : ‘ Tôi biết cầm cơ thỉnh tiên. Thầy sẽ bảo các sãi rủ người ngoài, hoặc bổn đạo đến coi thỉnh tiên. Tôi làm bộ cơ lên, viết chữ nói phá Ngọc-lịch thì chúng hết tin ‘. Đạt -Viễn đi khoe cùng nói tại am Thuần-dương (Lữ-đồng -Tân) thỉnh tiên linh lắm, ai cầu hỏi việc gì, thì đến mà hỏi, hoặc xin toa thuốc xin bùa, thần tiên cũng cho ‘. Thiên hạ nghe nói lưu truyền lần ra, nên ngày nọ nhiều người đến am Thuần-dương coi đạo -sĩ thỉnh tiên tới dưng hương chật trong chật ngoài. Quán-Tiên làm bộ lập bàn xông cơ, lúc đỏ đèn niệm chú, phun nước đốt bùa… Một lát cơ lên, đồng bưng cơ, thầy lại coi, viết chữ trên mâm cây vuông đổ cát. Quán-Tiên kêu ai biết chữ lên coi chữ tiên viết, Người biết chữ lên đàn, coi thấy trong mâm cát có bảy chữ lớn rằng : ‘ Ngô Thuần-dương tổ-sư chí hỉ ‘ và chín chữ nhỏ : ‘ Phàm nhơn khấu vấn giả, tốc tốc lai vấn ‘. (Nghĩa là : Ta là Thuần-dương tổ-sư đến rồi. Ai hỏi sự chi, mau lên mà hỏi). Ai nấy nghe đọc như vậy, thì rùng rùng lên đàn. Quán-Tiên nói : ‘ Đừng lại đông lắm, hỏi rộn không nên, vô từ người mà hỏi tử tế ‘. Đạt -Viễn quì lạy vái lớn rằng : ‘ Chẳng hay trong đời việc chi quí hơn hết, xin tổ-sư chỉ dạy Cơ viết nhiều chữ nhỏ như vầy :
    ‘ Thứ nhứt kính đạo -sĩ (thầy pháp) thứ nhì trọng thầy chùa, Đạo -sĩ dâng sớ, cầu đặng sống lâu. Hòa-thượng tụng kinh siêu-độ, đưa vong hồn về Tây-phương. Duy có một chuyện không nên nghe, là thứ Ngọc-lịch bảo ăn năn chừa lỗi làm lành mà trừ tội ! Có đâu dễ như vậy ! Nhiều người tin khắc bản lưu truyền mà gạt kẻ dốt phải lầm ! Nếu ai gặp Ngọc-lịch thì xé mà đốt đi, thì đặng phước lớn ‘.

    Người coi đọc rồi, lấy giấy chép ra chưa rồi bài ấy. Xảy thấy hào quang xanh lét chiếu vô đàn, Quán Tiên rùng mình té xuống đất, Đạt Viễn cũng nhào theo. Người chép bài ấy, đứng dựa bàn Lữ tổ, trợn mắt hét lớn rằng : ‘ Ta là Liễu tiên đây ! Vưng lịnh tổ sư truyền dạy cho đời rõ : Bởi vì người đời vô phước làm dữ không ăn năn. May nhờ trời nhậm lời Thập vương các thần tâu, ban phát Ngọc Lịch cho Đạm Si đem về, truyền người đời xem mà chừa lỗi, không dám phạm nữa, lời thần tiếng Phật tiên thánh khuyên răn. Thượng đế truyền chỉ Đô thành hoàng mỗi ngày canh phân phiên các du thần ngày đêm soi xét nhơn gian lành dữ. Nay có thầy chùa là Đạt Viễn, thầy pháp là Quán Tiến, dám ganh ghét Ngọc lịch, lên cơ mà giả nói gạt đời. Tội hai đứa ấy đáng đọa địa ngục hành tội cho đến kiếp rồi giam ngoài ngục A tì, không đặng đầu thai. Nếu ai ghét Ngọc lịch, mà không tin, cũng phạt như Quán Tiên Đạt Viễn vậy ‘. Nói rồi, ngó thấy cơ tự nhiên không ai vịn mà lên, viết 33 chữ như vầy :

Tâm bịnh tư tương tâm dược y.
Huyến nhục huân tính thiểu ngật ta.
Thơ trung tự hữu ba la mật.
Năng sử oan khiên tận thoát ly.
Ngô Liễu Tiên khứ dã

Thích nôm :

Bịnh tâm, thời trị thuốc bằng tâm.
Huyết thịt ít ăn đặng phước thầm.
Ngọc lịch thánh thần tiên Phật dạy.
Độ đời khỏi đọa, hết mê lầm,
Ta là Liễu Tiên đi rồi

Người coi chữ sao chép rồi, bước xuống nói rằng : ‘ Hồi nãy tôi chép còn một ít chữ thì hết bài trước. Xảy thấy một ông mặt xanh môi đỏ, lên đàn, bảo tôi truyền lời Lữ-tổ dạy, rồi đằng vân bay mất ! ‘. Ai nấy hãi kinh về hết. Không biết Quán Tiên với Đạt Viễn đâu mất ! Cách vài bữa nghe nói Quán Tiên với Đạt Viễn hai người bầm mình la hoài cho tới chết, mới biết quả báo nhãn tiền lẹ quá ! Ghê thay ! !

KINH-TÍN -LỤC
(truyền Ngọc-lịch, được phước)

Người bị chết trôi, lửa cháy, trộm cướp, tai họa, đều đổ tại thời vận, không dè tại mình làm dữ mà ra. Bởi chẳng kiêng trời đất, không tin Tiên Phật Thánh Thần, bất trung, bất hiếu, bất nhơn, bất nghĩa, hủy hoại lúa gạo, bỏ xả giấy chữ nho, sát sanh hại vật, khoe mình hiếp người, mê đờn ca, đắm tửu sắc, theo bài bạc gian lận, nếu phạm các tội ấy, dẫu có khỏi tội dương pháp, thì cũng bị thần phạt mắc tai họa. Nếu in Ngọc -lịch, gặp ai cũng giảng tội phước quả báo, sau thác đã tiêu hết tội, mà còn sống bây giờ cũng được hưởng phước sống lâu. Nay mới nghe cái tích làm lành đặng phước đổi rủi ra may, kể ra sau nầy, đều việc nhãn tiền, thiên hạ có nghe có thấy.

Ông Huỳnh-phương-Châu ở huyện Đại hưng, trấn nhậm huyện Khúc Dương, làm quau giáo thọ, vợ cũng làm lành. Khi đương làm việc tại đó, khắc bản kinh Kim cang, kinh Cảm ứng, kinh Âm chất, in mỗi thứ vài ngàn bộ, vợ in Ngọc -lịnh vài ngàn cuốn mà cho người, phóng sanh chim cá không biết mấy muôn ngàn mạng. Sanh năm người con trai, đầu lòng là Thúc Lâm đậu Than hóa, còn bốn người kế là Thúc Kinh, Thúc Kỳ, Thúc Huyển, Thúc Tuyên đều đậu.

Mục-quốc-Duy ở huyện Ngộ, đậu Tiến sĩ trào Minh Thiên Khải, ở nhà không làm quan. Hay thỉnh nhiều thiện thơ (kinh lành), thấy Ngọc-lịch liền sao tả cho người thấy, có rách thì dán lại, năm thất mùa thì đâu đậu thí lúa, lúc thiên thời thí thuốc. Con trai là Huệ Viễn đậu Tiến sĩ trào Minh Thuận-trị, cháu tên Đồng đậu Trạng nguyên, Cảnh Tuyên đậu Truyền lô, Kế Nhượng đậu Tiến sĩ. Con của Đồng tên Tảo đậu Bảng nhãn, các chắt đều bổ Hàn-lâm, Tiến sĩ , nối đời làm quan, cũng nhờ bố thí.

Bành-nhất-Âm ở huyện Trường châu, gặp thất mùa thì thí lúa, thấy thiện thơ thì in. Con tên là Cần, sao tả Ngọc-lịch dư trăm mà cho người, thi đỗ Trạng nguyên, chắt là Khải Phong cũng đỗ Trạng nữa, bởi nhờ thí Ngọc lịch.
Từ trước Đình ở huyện Côn san, làm biện lại với quan Nghiêm văn Tịnh. Khi trấn nhậm tỉnh Chiết giang, dân bị nước lụt. Trước Đình nói nung cho ông Nghiêm văn Tịnh bố thí, cứu sống nhiều mạng. Còn làm phước điều nầy : Lúc trào Minh vua Sùng Trinh, bị loạn, giặc bắt vài trăm phụ nữ, gởi tại Trước Đình bảo giữ giùm. Từ trước Đình lén cho phụ nữ bạc tiền, mà thả đi hết, rồi lập thế đốt nhà mà phi tang, đem bản kinh Ngọc-lịch với gia quyến trốn qua ở huyện Thái dương mà lánh nạn. Thuở nay Từ trước Đình in Ngọc-lịch thí cũng nhiều lắm. Đến thái bình, con trai lớn là Từ kiền Học thi đỗ Thám hoa, làm tới chức Thượng thơ , con giữa là Bĩnh Nghĩa cũng đậu Thám hoa, làm tới chức Thị lang, con út là Nguơn Văn làm tới Thiên quan chủng tể. Năm người con của Từ kiền Học là Thọ Cốc, Huỳnh Thọ Mẫn Thọ, Từ Bình, Từ Tuấn đều thi đậu.

Thái bội Lan ở Hồ-châu, ở hiếu đễ (thảo thuận), tiện tặn cho dư mà bố thí, hay thí thuốc cho nhà nghèo, con côi đàn bà góa cậy mượn thì chẳng tiếc. Nếu phụ nữ hoặc trẻ thơ làm mất đồ không dám về nhà, thì cho mà thường lại. Hay cho kinh Ngọc lịch, 84 tuổi không bịnh ngồi xếp bằng mà mãn phần. Lối xóm thấy có Tiên đồng Tiên nữ mời Bội Lan lên xe. Cháu là Khải Tôn, chắt là Thăng Nguơn đều đỗ Trạng.

Hùng triệu Đãnh ở huyện Nam-xương, làm thầy thuốc thuở 19 tuổi. Coi Ngọc lịch thấy khoản dung y hại người bị vào Hụơt -đại địa – ngục nên giữ mình trị bịnh kỹ càng và giảng cho thầy thuốc khác nghe nữa. Mình đã in thí, lại rủ nhiều Người, Phàm trị bịnh không nài cực khổ. chẳng luận giàu nghèo Nếu kẻ nghèo không có sậm, cũng tán nhỏ mà cho không. Nhà giàu thưởng bao nhiêu tiền, đều tùy cơ bố thí cho kẻ khó. Gặp năm thất mùa, thì đi bộ coi mạch chẳng nỡ làm tốn tiền xe người. Vợ cũng hiền đức, thuận theo ý chồng, mùa đông bận áo vải cũng không phiền. Đến 80 tuổi, nhằm ngày sanh Triệu-Đãnh, xảy thấy thinh không hiện ra một bức lụa đỏ, thông giữa căn nhà để chữ vàng rằng :
Phụng thiên đế mạng, Hùng-triệu-Đãnh phó Phước-kiến tỉnh thành hoàng tử nhậm ‘. (Vương chỉ thượng đế phong, Triệu Đãnh làm thành hoàng tỉnh Phước-kiến)
Cách ba bữa mùi hương đầy nhà. Triệu Đãnh tắm gội, thay y phục mới, ngồi xếp bằng mà mãn phần, con cháu thi đậu nhiều đời.

Trung-mạnh-Cầu làm quan Án-sát trấn tỉnh Hà-Nam, tánh ở thanh liêm có ân oai nhơn chánh. Có khắc bản Ngọc lịch, Âm-chất, văn giới sát của Liên-trì đại sư (nay đem chung vô Ngọc-Lịch rồi). Tánh ghét họa hình tục tĩu, bài thuốc tráng dương, bài thuốc phá thai và đồ nghề bài bạc. Nếu gặp thì hủy hết, ai cáo thì được hưởng. Năm nào thất mùa dân đói thì thí lúa, cho tới xứ khác nữa. Vợ cũng cầm đồ mà phụ với chồng in Ngọc-lịch và thiện thơ. Những kẻ nghèo bệnh đều nhờ ơn hai ông bà. Sanh năm trai đều thi đỗ làm quan.
Trương-xuân-Phố nhà giàu mà cần kiệm như nhà nghèo thấy thiện-thơ thì bảo con cháu sao tả cho người. Tánh ở thuần hậu, con cháu hay tả kinh, sau thi đậu tới đời chắt.

Tỉnh Chiết-giang phủ Hàng-châu, Từ-văn-Kỉnh làm đại thần mà hay giảng kinh sách tam-giáo, in Ngọc-lịch, có khắc thêm Kỉnh-tín-Lục là các bài nói trước đó mà cho đời. Mẹ ngày nào cũng niệm Phật Quan-Âm. Năm đói thời thí lúa. Sau con làm tới Chủng-tể, các cháu thi đỗ làm quan.

Trần-thị là họ lớn tại huyện Hải-ninh lập trại hàng thí quan khách, thí thuốc, thí đất cúng, tối trời thấp đèn ngoài đường đi, thí Ngọc-lịch. Con cháu thi đậu, nổi danh tỉnh Chiết-giang.
Tại tỉnh Chiết-giang, phủ Hàng-châu, có bốn họ đại phú là : họ Quan, họ Uông, họ Tôn, họ Triệu, đều nối đời nhơn đức bố thí nên giàu bền không cổi. Họ Quan, cha con thi rồi, về lo giải thiện-thơ, kế nghe báo, cha con đều đậu. Còn họ Uông tới đời nay còn thí thuốc Tử Hà, giàu hoài không cổi. Họ Tôn thí Ngọc-lịch và các thiện-thơ. Họ Triệu thí quan quách quần áo, Bốn họ ấy giàu bền, lại phát quan, là nhờ bố thí làm phước.

  • Lưu-học-Triều ở huyện San-âm, năm Bính Thân, trào Càn-Long dắt gia quyến đến kinh đô đợi bổ ra làm quan. Dọc đường gặp đàn bà bận áo đỏ, nói : ‘ Hồi tôi còn sống, muốn in Ngọc-lịch một trăm bộ, bị ông cản trở hại tôi bây giờ mắc tội dưới Âm-phủ ‘. Lưu học-Triều hãi kinh nhìn lại, là nàng họ Trịnh vợ của người đầy tớ cũ. Đi tới kinh phát bịnh, hay thấy hồn nàng họ Trịnh đến gây hoài. Vợ là họ Khương hay sự ấy, vái in hai trăm bộ thí cho họ Trịnh. Lưu-học Triều vùng nói : ‘ May nhờ ơn Phật tôi được siêu độ ‘. Nghe in vọng nàng họ Trịnh ! Khương thị càng tin, lo in lập tức cúng tại am cô vãi. Cách nửa tháng, hai vợ chồng đồng thấy nàng họ Trịnh về lạy tạ rằng :’ Nhờ ơn in Ngọc-lịch, tôi đặng đầu thai, Diêm vương chia phước cho bà phân nửa, sau gặp nhiều sự may ‘. Lưu-học-Triều thức dậy, liền mạnh.Cầu-phục-Sơ ở tỉnh Nam-kinh là người chí hiếu với cha mẹ, Vợ chết, có con là Đại Vinh cũng có hiếu. Tánh Phục-Sơ không tin có quỉ thần địa ngục. Ngày kia đi buôn bán đặng cuốn Ngọc-lịch đem về, cha con coi với nhau, cha gọi nói huyễn nên bỏ dẹp trên gát ! Con là Đại Vinh mộ lắm, muốn kiếm bản in ra lưu truyền, sợ cha quở nên không dám. Phục-Sơ bịnh nặng, ngó thấy nhiều con quỉ dị hình tới phá, bèn kêu con mà than rằng : ‘ Nay mới biết có quỉ ma địa ngục, ăn năn xưa không tin Ngọc-lịch mà ở theo ! Đại -Vinh nghe nói, liền vái in ba trăm cuốn mà lưu truyền, cầu cha mau mạnh. Phục-Sơ nghe quỉ nói :’ Ông Táo đã đề hai chữ Thuận Tuân trên trán Phục-Sơ, không bao lâu sẽ có chiếu chỉ Ngọc đế đến, chúng ta trốn trước cho mau, kẻo nữa bị quở ‘. Phục-Sơ liền mạnh.

    Hạ-kiến-Mô tự Hữu-kiều, ở huyện Tiền-đường, thuật chuyện chiêm bao rằng :’ Năm Mậu Dần ta dạy học tại nhà họ Cao, Lúc tháng tư, ta soạn sách cũ trên gác, gặp cuốn Ngọc-lịch, coi rồi thì xét lẽ dạy thì phải, song không chắc thiệt sự như vậy. Nhưng mà thấy lời nói rẽ ròi, tuy kẻ dốt đàn bà nghe cũng dễ hiểu, vậy là một lẽ chánh, khuyên đời làm lành răn dữ như sách nho. Vả lại giá in cũng rẻ nên vái in thí một trăm cuốn. Cách vài ngày xem lại, thấy nhiều lời nói quái gở, mình là người học nho, không lẽ nói cho ai nghe. Nghĩ như vậy nên tính lại không in Đã gần đi thi, không rảnh đâu mà suy xét việc ấy. Vào thi nạp quyển rổi, về nhà ngẫm nghĩ mình đặt hai câu chưa êm, e khi phải rớt, nên trong bụng buồn bực, nằm mơ màng thấy một ông cao lớn, ăn mặc đồ xưa, gò má có triều, râu dài như hình ông Tô-đông -Pha vậy. Ta lấy não bài vở trong trường đưa xin xem thử đâu rớt. Ngài dạy rằng :’ Ta biết tánh chàng đủ tài đức, khoa nầy chắc đậu còn ngại nỗi gì ! Song ngươi đã gặp Ngọc-lịch, sao không in mà cho thiên hạ ? ‘ Ta nhớ trực lại, thưa rằng :’ Ngọc lịch e sợ không thiệt chăng ? ‘ Ông già nói :’ Địa ngục dưới Âm phủ, là tại lòng người làm phạm các tội nơi địa ngục. Nếu lòng người chẳng phạm các điều ấy thì có địa ngục cũng như không. Mình thông lý sao còn chưa hiểu mà nghi không thiệt ? Mau in mà thí, đừng dụ dự hồ nghi nữa ? Ta thức dậy, chưa dám nói với ai. Thiệt tới kêu tên mới biết chắc đậu nên in một trăm cuốn và phụ thêm sự chiêm bao vô đây.

    Tôi là Cao-Lan, tự Nhơn-Hòa ngày 11 tôi qua mừng cậu tôi là Hạ-hữu-Kiều thi đỗ. Cậu tôi thuật chuyện chiêm bao điềm lạ… và đưa bài tự thuật cho tôi xem, tôi cũng lấy làm lạ ! Khi ấy con tôi là Hiển Tăng có đậu ba bốn ngày mà không tốt. Đến rằm vợ tôi là Phùng thị, con gái tôi là Trinh-Khanh cũng có đậu nữa. Kế một tên học trò, một con tỉ tất cũng có đậu, tôi lấy làm hãi kinh ! Đêm ấy thắp hương đốt sớ chịu ăn năn chừa lỗi, nguyện in ba trăm cuốn Ngọc-lịch cho người và thả 30 muôn vạn cá. Vái rồi không đầy mười ngày mà bốn người mạnh. Còn Hiển Tăng yếu đuối nên chậm hơn, sau ra mũ lỗ tai rồi cũng mạnh. Lấy làm lạ điều nầy : vợ tôi đậu rựng mọc, mà mọc không đặng, thầy thuốc sợ nhập vô làm khổ, kể từ tôi đốt sớ ba ngày, ra mồ hôi ba lần, rồi tiêu mất ! Nhờ ơn thần phò hộ bình an là vì vái in Ngọc-lịch mà linh nghiệm như vậy mới tin cậu tôi thấy chiêm bao là điềm thiệt, nên khắc thêm sự tôi vào đây, cho thiên hạ biết. Nhằm tháng 9, vua Gia-Khánh 23.

    Kinh Ngọc-lịch lưu truyền đã lâu. Ông nội tôi là Văn-Kỉnh có khắc bản in thí, ai tin làm theo đặng gặp phước đều khắc thêm vào đây rồi. Năm ngoái Hạ-hữu-Kiều thấy chiêm bao, in một trăm bộ. đưa cho tôi một cuốn, tôi động lòng muốn in thêm, ngặt lúc không dự, Năm nay thi đỗ, thân hữu lễ mừng, tôi đều lấy mà in một trăm cuốn và khắc thêm lời nầy vào đây. Từ-Chương ở huyện Tiền-đường, ghi tháng mười, năm Kỉ-Mảo Năm Mậu-Dần, Hạ-hữu-Kiều làm chức Hiếu liêm, qua Tô-châu cho tôi một bổn Ngọc-lịch, tôi coi tới câu : ‘ Địa ngục là tại lòng.’ Tôi ngẫm nghĩ ra lý quả báo. Qua năm Kỉ-Mão cháu lớn tôi bịnh nặng tôi vái in Ngọc-lịch cầu cho cháu mạnh, thiệt quả đặng sống. Tháng hai năm nay, con trai lớn tôi là Lượng-Dần đau chứng yết hầu gần chết, tôi vái trời xin cho con mạnh, thì in Ngọc-lịch phái liền. May ra mồ hôi mà mạnh đổi họa ra phước, nên cám ơn trời phật thánh thần. Khi trước tôi gởi cho bằng hữu qua Hàng-châu in ba trăm bổn nữa, có khắc in thêm khoản nầy cho các nơi khác. Kinh nầy đáng kính, nên tôi ghi vài lời xin các vị thiện tâm rán rủ in ra khuyên đời, thì đặng phước nhiều lắm. Khi ấy niên hiệu vua Đạo Quang năm thứ nhứt là Tân-tị, tháng tám. Cát-võ Điền hiệu Du -nhuận đương ngụ ở Tô Châu đề.

    Niên hiệu Dạo-Quang năm Quí-Tị, mùa thu, tôi là Phan-quang Thọ ở sông Tiền đường, bởi em bạn dì tôi là Châu-phước-Tăng, Táo-thủ-Tăng khắc bản khuyên tiếc lúa gạo, trọng giấy chữ, lại tính khắc Ngọc lịch in cho đời. Tôi nói : ‘ Sự địa ngục là u minh, không đáng tin. Vả lại muốn lượm giấy chữ đà tốn hao, khắc bản tốn nhiều, vô ích ‘. Hai anh em nghe tôi nói thôi làm. Qua mồng ba tháng giêng, năm Giáp Thân (năm sau), tôi chiêm bao đến chùa Văn Xương đế quân, kêu tên thì vào hầu. Tôi vào quì lạy. Phán quan nói lớn rằng :’ Ngươi đã chẳng tin thì thôi, sau cản người làm lành ? ‘
    Tôi tâu rằng :’ Thuở nay tôi không cản ai làm việc lành ‘. Phán quan hét lớn rằng : ‘ Ngươi quên sự cản khắc bản Ngọc-lịch sao ? Ngươi hãy nói nhiều chuyện nên trễ đậu tú tài đã mười năm và chết nhiều đời vợ ; nếu còn nói điên như vậy, thì thấy chết yểu ! Như biết ăn năn, nguyện khắc bản kinh, khuyên đặng ngàn người chừa lỗi làm lành sắp lên, thì tiêu tội trước, mà được phước sau ‘. Ta giựt mình thức dậy, mồ hôi dầm mình ! Song còn nghi mộng mị không chắc. Vả lại nhằm dịp Tết, bằng hữu rủ chơi bời, nên chưa lo khắc bản. Qua 27 tháng sau, ta thổ huyết hai búng, mệt xỉu ! Thấy phán quan khi trước, mặt giận nạt rằng : ‘ Ngươi mới ăn năn rồi cũng quên nữa, nay họa đến rồi ! Bữa sau tôi kêu hai người em mà nói các điềm ấy nguyện ăn chay bảy ngày, mướn nhiều thợ khắc rút, mười ngày rồi bản nầy, khắc thêm sự mình in luôn cho người, xin thiện nam tín nữ rán khuyên đời ăn năn hoặc vẽ ra bức Thập điện theo trong kinh mà treo trên vách, ngó thấy mà giựt mình, năng coi năng đọc Ngọc lịch mà sửa lòng chừa lỗi, làm lành lâu ngày thì có phước. Nếu chẳng tin. e phải bị gương tôi. Phan-quan-Thọ ở huyện Tiền-đường đề.
    Tiên Phật hay nói nhơn quả, còn kẻ học nho hay chê là dị đoan ! Sao chẳng xét ? Thích là Phật, đạo là tiên tuy dạy khác đạo Nho của thánh song cũng dạy người làm lành như nhau, nên tam giáo như một. Tôi xem hết cuốn Ngọc-lịch, ý dạy cũng như sách Nho, mà nói rành rẽ dễ hiểu, không cần văn chương đối đáp, miễn cho đời dễ hiểu mà ở thì hơn, tới đám đàn bà con nít cũng nghe chung đặng nữa. Người đời ít kẻ văn học nên bảo ở nhơn nghĩa trung hiếu thì mấy ai hiểu thấu mà làm, chi bằng Ngọc-lịch nói sự báo ứng, làm điều chi được phước, ở làm sao thì mang họa, người thấy giựt mình mà hồi tâm. Mới coi thì là lời khuyên răn, xét kỹ thiệt dạy đường đạo đức, phải là gìn lòng sửa nết cho nên người trung hiếu nhơn nghĩa chăng ? Như vậy thì công lớn lắm, có phải thua sách nho đâu ? Niên-hiệu Gia-Khánh 22 là năm Dinh-Sửu, mùa xuân ghi lời bạt (không để tên).

  • KHUYÊN PHỤ ÍT LỜI
    (cũng không đề tên)
    Lành dữ người đã làm, phước họa trời không vị. Biết lành đáng làm mà không làm, sao phải người lành. Biết dữ đáng chừa mà không chừa, thiệt là tội dữ. Sự quả báo ai mà không hiểu ? Sao lại không làm phải can tâm làm quấy mà chịu trầm luôn ! Người đời nhờ cơm mà sống nếu có hơi muốn thiu, thì đem đổ, có khi đạp . cơm cháo cũng không sợ tội. Nếu kẻ ăn mày, đặng cơm cháo thiu ấy mà ăn, cũng sống đỡ một lát. Đồ ăn ngon vào bụng thì hóa đồ dơ, sao lại chê cơm nguội ! Huống chi kẻ làm ruộng gần bên lúa gạo cực khổ trăm bề, mình có mà ăn, lại hủy hoại như vậy, tội biết chừng nào ? Họ ăn mì hay đổ nước, sao không nghĩ đồ vụn, cũng là cơm cháo, nếu chừa cặn, thì tôi tớ nó đổ nơi chỗ dơ ! Nếu không ăn nước, thì vớt mì vụn mà ăn cho hết . Nếu huỷ -hoại cơm cháo vật thực thái quá, e bị Lôi -công . Kinh nói cữ sát sanh, hoặc phóng sanh, là nói vật lớn : còn ta nhắc vật mọn cho đời nhớ . Người hay nuôi chim, như chim quyên nhồng sảnh keo két cưỡng sáo, các loài chim hay ăn trùng dế cào -cào, châu chấu v .v … thường ngày phải bắt vật các ấy mà nuôi nó kêu nó nói cho êm tai mà thôi, chẳng kể giết không biết mấy muôn ngàn mạng vật mọn mà nuôi nó, trong lương tâm đành đoạn hay sao ? Còn người gọi ốc là rẻ nên hay ăn song thiếu chi vật rẻ tiền, mà phải ăn ốc ? Một bữa ăn hơn vài trăm mạng ! Đáng lẽ đã cữ, lại mua ốc mà phóng sanh, đặng chuộc tội trước . Còn ăn cá là thường, song những cá nhiều trứng, nếu trứng cá tươi, chưa vấy muối, để lâu cũng còn nở . Sao không dặn kẻ nấu ăn, nếu làm cá gặp trứng thì lấy bao đất mà bỏ xuống sông, mình nhín ăn một đũa mà phóng cả ngàn mạng cá con (ấy là lời ông Lữ đồng Tân giáng cơ có dạy). Phóng sanh thế ấy khỏi tốn tiền mà phước lớn lắm . Nếu vì một miếng ăn mà chết trăm ngàn trứng cá sao đành, dầu vật mọn cũng vậy .

    KHUYÊN ĐỪNG MÊ TỬU SẮC TÀI KHÍ

    Rượu chớ uống nhiều, nhiều thì say, say thì hư việc cả .
    Sắc chớ ngó nhìn, nhìn thì mê, mê thì mắc tội đầu .
    Bạc chớ tập đánh, đánh thì tham, tham thì thâm vốn liếng .
    Giận chớ làm dữ, dữ thì đánh, đánh thì bị lao tù (củ).
    (Phủ) : Kiêng rượu không say, giữ tánh thường .
    Đừng mê hoa nguyệt, chẳng tai ương,
    Không theo bài bạc, còn gia sản .
    Giận tức mà dằn, hoạ khỏi vương (Hành tố).

    TÍCH NGƯỜI KHÔNG TIN GIÁNG CƠ

    có người kia thấy thỉnh cơ thì không tin, nói bày đặt lên giả . Lúc đó cơ lên xưng Ngọc -Hổ tiên sanh . Va cười ! Cơ viết bài thơ 8 câu, va thất sắc, quì lạy . Cơ nói nàng ấy đã thôi ở lầu xanh, có chồng rồi, ngươi đặt thơ gởi âm phủ có lục bài thơ , ta thấy làm án nặng, viết cho ngươi sửa nết, y hoảng, vì mới đặt não chưa gởi mà thần tiên hay . Năm sau y thác . Tám câu thơ y sau đây: Tử quỉ bay hoảng khóc tàn canh .
    Đoái lại Chương đài cụm liễu xanh .
    Hoa nở có kỳ tằm ruột đứt,
    Mây tan không ngỡ bướm hồn đoanh (giấc điệp)
    Nhớ chừng ngõ phớt xô khuôn cửa .
    Quá chén cười mơn nựng bức tranh .
    Còn ấp tì bà năm trước chẳng ?
    Tầm Dương tình cũ trả lời rành ?

    BÀI THỜ KẾT :

    Trần làm gia chánh sách nêu danh :
    Hành thiện tu tâm tại học hành .
    Tố vị giàu nghèo dùng phải tố .
    Thanh liêm phận sự giữ cho thanh .
    Phước nhiều bởi dạ làm lành lắm .
    Đạo cả nhờ kinh giảng nghĩa rành .
    Nhơn đạo xong rồi tiên đạo có .
    Kỳ công chừa quá bước mây xanh .

    PHỤ DỊCH

    LỜI TỰA DƯƠNG-PHÁP -TRÌNH IN KINH NGỌC LỊCH

    Quan-đế giáng bút tại đàn nhà Dương-pháp -Trình, bảo in Ngọc lịch phải thêm 20 khoản hựu tội của Lữ Tổ xin phép Đại -Sĩ với Địa tạng mà giáng cơ và có các tiên giáng .

    LỮ TỔ PHỤNG SẮC GIÁNG BÚT

    và chú giải 20 khoản
    Ta là Thuần -Dương đặt 20 khoản xin ân xá, nhờ Quan-âm Địa -Tạng nhận lời tâu lại, nên truyền chỉ cho ta phải phụng chỉ Thế -tôn Như lai truyền dụ 20 xá khoản . Nếu ai lương thiện, làm theo 20 khoản ầy, thì thành Phất tiên thánh, hiền . Nếu kẻ dữ, thấy 20 khoản nầy, thề cải ác, ở theo điều lệ đây, thì khỏi luân hồi trả quả . Ta giáng bút sau đây :

    1. HIẾU : Con có hiếu với cha mẹ là điều lành trước hết, học trò có hiếu thì thi đỗ . Nếu ai bất hiếu thì trời phạt khốn khổ, tai nạn, chết tật bịnh, chết yểu (chết cách dữ). Dầu người tu tam giáo cũng vậy, hiếu thì siêu, bất hiếu thì đoạ . Sự hiếu đã hết lòng phụng dưỡng, biết có cha mẹ chớ không biết có mình, phải cung kỉnh chịu lụy thiệt tình cho song thân đẹp ý . Nếu cha mẹ bất bình thì con mang bất hiếu .

    2. KỈNH : Kính sợ trời Phật thánh thần, nên không dám làm việc quấy, lòng kiêng sợ là kỉnh, không phải lạy cúng là kỉnh . Như kỉnh kiêng phép nước, không dám phạm phép luật, chớ không quì lạy .

    3. TRUNG : Như tôi ra trận, liều mình trả ơn chúa . Còn quan gián nghị can vua không tiếc mạng . Quan Trấn thanh liêm, thương dân, mảng lo việc nước mà quên việc nhà, vì hết lòng hết sức . Tôi tớ phải hết lòng trung với chủ nhà . Bạn bè trung tín với chủ tiệm . Người thay mặt trung với chủ . Còn như tá điền lo lúa ruộng, dân lo xâu thuế nước, cũng gọi là trung (hết lòng).

    4. NGHĨA : Là sự phải lẽ, không làm trái lẽ, chẳng dám quên ơn, không làm việc quấy . Xử cho phải nghĩa là quân tử .

    5. THỦ : Giữ bổn phận bền chí cho qua thời, không vì nghèo nàn mà đổi tiết, Phải thủ thân vì trọng, không dám làm cho hư thân thể mình, thủ khẩu không dám nói tổn đức .

    6. NHẪN : Nhịn dằn thì được phược khỏi hoạ . Như Lâu sư Đức, Trương công Nghệ, Lưu Khoan . Nếu không nhịn, thì chẳng hoà .

    7. ĐOAN : Ngay thẳng, một sự ngay thẳng thì không tội . không nhập bọn tà vạy, cứ chánh trực công bình, sẽ thành thần thánh .

    8. PHƯƠNG : (Vuông) : Ở có mực thước, làm việc vuông tròn .

    9. NHƠN : Ở có nhơn là hay thương xót, chẳng nỡ hại người hại vật, mình no mà người đói không đành, hay làm ơn phước .

    10. HẬU : Ở có hậu, thì không vong ân bạc ngãi, không khắc bạc ai hết . Người có ân hậu là người hiền lành lắm .

    11. BẤT KIÊU BẤT TRÁ : Chẳng kiêu chẳng gạt : giàu cũng không khoe khoang, giỏi cũng không kiêu ngạo . Châu-công là bực thánh, làm ngự đệ mà còn chẳng dám kiêu . Kiêu như Thạch -sùng, giàu cũng mắc họa . Còn không dối thì là chơn thiệt, chẳng gạt ai, chẳng thất ngôn thất tín thì khỏi phạm vọng ngữ, chơn thiệt mới thành .

    12. BẤT THAM BẤT SÂN : không tham không giận, Tham thì sanh giận, giận thì sanh dữ, nên tam giáo đêu cấm hai điều ấy . Qang-âm nói:

Sân thị tâm trung hỏa, năng thiêu công đức lâm,
Dục hành bồ tát đạo, nhẫn nhục hộ chơn âm .

Thích nôm :

Giận thiệt lửa trong lòng, như thiêu hết đức công .
Muốn theo bồ tát dạy, dằn nhịn dạ như không .

13. BẤT KHÍ BẤT VÕNG : Không dối, không ngang . Không dối thì lòng công, không ngang thì khỏi phạm thượng, giữ tánh khiêm nhường .

14. BẤT TÀ BẤT DÂM : không vạy, không tà dâm . Lòng không chánh là tà, không phải thê thiếp mình, mà muốn là tà dâm (dâm ác) chẳng nên thấy sắc tốt mà sanh lòng tà dâm vọng tưởng .

15. TƯƠNG THÂN TƯƠNG MỤC : Thương nhau, hòa nhau . Lòng thân là tưởng không ghét ai, hòa là không gây tung với ai . Coi bốn biển như một nhà, coi thân ai như thân này . thương người như thể thương ta .

16. ĐỒNG THIÊN ĐỒNG THÀNH : Mình lành khuyên người làm lành, mình thiệt tình, khuyên người thiệt tình cũng hết lòng thành như mình .

17. HÓA KỶ HÓA NHƠN : Sửa mình cho thành đức, rồi lo dạy người sửa người đặng đức hạnh như mình, không tiếc công dạy .

18. HÓA ĐẠO HÓA NGHĨA : Giữ theo đạo luân hồi, xử cho phải nghĩa,
hay trượng nghĩa giúp người, nhứt là bằng hữu sửa lỗi nhau .

19. QẢNG KHUYẾN QUẢNG HÀNH : Rộng khuyên, rộng làm . Mình khuyên người làm lành làm phải, mà mình cũng làm ơn làm phước cho nhiều .

20. VÔ PHI, VÔ THỊ : Không sanh việc thị phi . Nếu lòng ở công, không phân người phân ta, nói người phải mình quấy, thì không sanh việc thị phi .
Nên giữ được 20 điều ân xá thì siêu .

  • ĐỊA -TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT GIÁNG BÚT
    (Tựa Công-quá-cách)
    Người đời không cho con học chữ nho, nên không thông đạo lý. Cứ tưởng cúng chùa dưng hương là lành, rước sãi thầy tu tụng kinh làm chay thì siêu độ vong hồn đặng ! Các điều ấy có phải làm lành làm phước đâu ? Làm lành là làm phải lý, lại khuyên người làm phải, thì trời xuống phước. Ta thấy người đời ở với cha mẹ không hiếu gì, cha mẹ mãn phần thì nói : ‘ Sa địa ngục rồi ! Phải rước sãi làm siêu độ ! ‘ Các sãi bày ra làm mị, như gởi kho vàng bạc, phá ngục, bong đầu phướng đặng tiếp dẫn vong hồn lên Tây phương. Có lẽ gì thọc cây tre mà phá đặng địa ngục ? Nếu quả như vậy, thì kẻ giàu sang làm dữ, thác rồi con cháu rước đông sãi tụng kinh niệm Phật thì vong ra khỏi ngục sao ? Người hiền lành mà nghèo, không tiền rước sãi làm như vậy, thì không ra khỏi ngục sao ? Như vậy trời đất cũng vị nhà giàu mà hà hiếp nhà khó hay sao ?
    Còn như Phật ở Tây phương, công đâu mà vị nhà có tiền phải cứu vớt ? Tâm là Phật, tâm là thiên đường, lòng lành thuận lòng trời thì cầu vong khỏi tội, lòng chẳng lành nghịch lòng trời thì cầu không đặng. Nếu không làm phước cứ mỗi ngày rước thầy tụng kinh cầu siêu hoài, Phật muốn cứu cũng không lẽ cứu được. Ta cũng là Phật lẽ đâu không hiểu phép. Làm lành tuy không cầu Phật mà Phật cũng phò hộ. Nếu làm dữ, có lạy Phật cho đến sói đầu, cầu cũng không đặng. Ta khuyên đời nghe lời ta, cứ ở theo luật Công quá cách, đừng làm các điều dị đoan trái lẽ, tuy chẳng cầu ta cũng độ vọng, không cần rước sãi.

    VĂN-ĐẾ BÁ-TỰ-MINH (GHI TRĂM CHỮ DẠY ĐỜI)

    Quả dục tinh thần sảng Dục ít tinh thần khoẻ.
    Đa tư huyết khí suy, Lo nhiều khí huyết phai.
    Thiểu bôi bất loạn tánh. Vài chung khôn loạn tánh.
    Nhẫn khí miễn thương tài. Một nhịn khỏi hao tài.
    Quí tự tân cần đắc. Sang tại siêng năng, đổ.
    Phú tùng kiệm ước lai. Giàu nhờ tiện tặn dai.
    On nhu chung hữu ích. Dịu mềm sau có ích.
    Cường bạo tất chiêu tai, Hung dữ sẽ mang tai.

    Thuận xử chơn quân tử.
    Khiêu toa thị họa tại.
    Am trung hưu sử tiễn.
    Qai lý Phóng ta ngai.
    Dưỡng tánh nghi tu thiện
    Khi tâm mạt ngật trai,
    Nha môn hưu xuất nhập
    Hương đảng yếu hòa hài.
    An phận thân vô nhục.
    Nhàn phi khẩu vật khai.
    Thế nhơn y thử khuyến.
    Nạn thối phước tin hồi.
    Khéo xử nên quân tử,
    Xui mưu rấm họa thai.
    Chốn thầm đừng bắn lén
    Cảnh nghịch giả ngây hoài.
    Tánh tốt gìn tam thiện.
    Lòng gian uổng thập trai.
    Nha môn đừng kiện cáo
    Làng xóm chớ chê bai.
    Bổn phận nương cơ tạo.
    Thị phi lấp lỗ tai.
    Lời nầy ai giữ đặng.
    Nạn khỏi phước lâu dài.

    ĐƯƠNG -THỦ TRAI -KỲ
    (một năm ăn chay 61 ngày vía lớn)

    Bốn ngày tháng giêng : mồng 1 , lệ tế trời và vía Phật Di -Lạc, (vái…) Mồng 8 vía Ngũ -điện Diêm La Vương (vía ăn năn làm lành như mồng 1). Mồng 9 vía Ngọc-hoàng thượng đế (bái cải quá…) Rằm Thiên quan đại đế.
    Sáu ngày tháng hai : Mồng 1 vía Nhứt điện Tân -quáng vương (nguyên y Ngọc lịch ). Mồng 2 vía Thổ địa chánh-thần. Mồng 3 vía Tử -đồng Văn -xương đế quân. Mồng 8 vía Tam điện Tống đế vương (vái…). Rằm vía Thái thượng Nhạc nguyên soái (tụng Cảm ứng). 19 Quan-âm, (tụng Phổ môn Cứu khổ, Cao-vương).
    Sáu ngày tháng ba : Mồng 1 vía Nhị -điện Sở-giang-vương (vía…). Mồng 2 Chơn -Võ Huyền thiên thượng đế (nguyện tụng kinh Báo ân). Mồng 8 vía Lục điện Biện -thành -vương (vái…). Rằm Lôi -đình đại tướng. 16 vía Chuẩn -đề Bồ -tát. 27 Thất điện : Thái sơn vương, 28 Đông -nhạc đại -đế.
    Năm ngày tháng tư : Mồng 1 Bát đẳng vương (vái…) Mồng 8 Cửu điện Đô thị vương (vái…) 14 Lữ Tổ Rằm Thích -ca Như -lai (tụng Kim -cang). 17 Thập -điện Chuyển -luân xương (vái…)
    Sáu ngày tháng năm : Mồng 1 Nam-cực tiên ông. Mồng 5
    Lôi đình Đặng thiên quân, 11 Đô-thành – hoàng . 13 Quan Thái tử, (14, rằm 2 ngày cấm phòng).
    Bốn ngày tháng sáu : Mồng 1 Rằm 19 Quan-âm thành . 23 Quan đế Linh quan .
    Bốn ngày tháng bảy ; Mồng 1 ngày sóc . Rằm Địa -quang đại đế . 18 Diêu-trì Tây vương mẫu . 30 Địa tạng vương (vái …).
    Bốn ngày tháng tám : Mồng 1 Diệu -tế chơn-quân, Mồng 3 Táo -quân (tụng kinh …) Rằm Thái âm hoàng hậu (tụng thái -âm). 24 Táo mẫu (bà Táo) tụng kinh ông Táo).
    Bốn ngày tháng chín : Mồng 1 Nam-đẩu . Mồng 9 Phong đô đại đế, 13 vía Mạnh -bà . Rằm ngày vọng .
    Năm ngày tháng mười : Mồng 1 Đông-hoàng đại -đế . Mồng 8 Niết bàn (phóng sanh). Mồng 10 ngày cấm phòng . Rằm Thủy quan đại đế . 30 Châu tướng quân (ông Châu).
    Bảy ngày tháng mười một : Mồng 1 ngày sóc . Mồng 4 Khổng tử thánh nhơn . Mồng 6 Tây nhạc đại đế . Rằm ngày vọng . 17 A Di Đà Phật (tụng Di Đà). 19 Thái dương (tụng kinh Thái dương), 23 Trương tiên (Phàm vía này, vía Linh quan Thái tử, ông Châu, vía ông Quan đế, đều tụng kinh ông ; Minh thánh Vĩnh Mạng).
    Sáu ngày tháng chạp : Mồng 1 ngày sóc . Mồng 8 Thích ca . Rằm ngày vọng, 23 đưa ông Táo chánh vía 24, 30 chư Phật giáng thế .
    Tháng nào thiếu, 29 thế 30 . Tháng nhuần tính theo tháng trước .
    Nếu ai ăn chay vía trước nhiều không nổi, thì giữ chay nầy .

    BÀI SÁM HỐI QUÁ, TIÊU TỘI NHỰT KỲ

    Trần -huyền -Trang là thầy Tam-Tạng thỉnh kinh Tây-phương về, có dưng sớ cho vua Đường Thái -Tôn, mỗi tháng có một ngày nhằm giờ lay sám hối cho nhằm hướng chư Phật hội nghị . Vái nguyện ăn năn chừa lỗi cữ và nguyện làm phước mới cho tiêu tội . Chẳng phải lạy không mà trừ tội đặng . Phật cho hối quá tùng thiện .
    Tháng giêng, tảng sáng ngày mùng 1, lạy hướng nam 4 lạy, vái .’ 2, mùng 9, 5 giờ sáng, lạy hướng nam 4 lạy, nguyện . ‘ 3, ‘ 7, tối 10 giờ, lạy hướng tây 4 lạy, tháng 4, mùng 8, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng đông 4 lạy, nguyện ‘
    ‘ 5, ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
    ‘ 6, ‘ 7, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng nam 4 lạy, ‘
    ‘ 7, ‘ 6, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
    ‘ 8, ‘ 8, đứng bóng , lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 9, ‘ 9, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 10, ‘ 1, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 11, ‘ 3, đỏ đền, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
    ‘ chạp ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng tây 9 lạy, ‘

    Ngày ấy ăn chay niệm thầm : Nam mô A-di-đà Phật, đặng lấy câu lạy mấy câu . Chừng lạy, thắp nhang ba cây, căm trên hương, nhắc ghế (bàn) để ngay hướng đó, có đèn cũng đủ, à quả tự ý, không ngơ cũng được . Bận áo dài, đứng chắp tay iệm 6 chữ Di-đà 100 câu, ít nữa 10 câu . Rồi vái tên họn mình gày nay nguyện cải ác tùng thiện . Ở theo Công-quá -cách, cầu êu tội cũ, mà nhờ phước trời Phật thánh thần cho, rồi lạy y số . ân hương, dẹp bàn ghế, niệm Phật . Làm được như vậy ba ăm, thì cảm động bề trên, trong nhà bình an, tai qua nạn khỏi, làm hoài chung thân, sống được phước, thác khỏi tội . Cũng như lặt bàn lạy vía Thập -vương, lạy Thập -vương cứ hướng bắc .

    VĂN-XƯƠNG ĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ DẠY CẦN GẤP

    Ta đã thấy chiếu chỉ Thượng -đế ban cho Bắc -đế (Huyền hiên Thượng -đế) nội tháng chạp, dẫn âm binh đi tra xét tội bất hiếu mà phạt, có hiếu thưởng phước, là xét các mồ mả tử tế, thì là coi con cháu là tên họ gì mà lo cho cha mẹ ông bà, thì hưởng phước lộc thọ gọi là thưởng thiện (hiếu). Nếu mả nào hoang lạnh, tồi tệ, bỏ bê thì tra ra con cháu bất hiếu, thì phạt tai hoạ, bịnh hoạn, nghèo khổ thác yểu . Tùy theo hư nhiều ít ; mà hạt nặng nhẹ . Tại con cháu không biết cội rễ, nên phạt gia đạo hông an . Vì Huyền -thiên thượng -đế là giáo chủ việc báo ân, nên in thưởng có hiếu và phạt bất hiếu . Nên ta cho đời hay trước là giữ .

KHẮC BẢN NGỌC -LỊCH, THỈNH TIÊN CHO TỰA

Lữ Tổ giáng bút :

Người đời làm dữ thái quá, nhờ ơn Địa -tạng truyền chỉ Phong-đô, Thập -vương dọn Ngọc -lịch, xin chỉ Thượng -đế, ban phát trung giới cho người ăn năn chừa lỗi, làm phước đền tội . Lúc đời Tống, nhằm nước Liêu niên hiệu Thái -bình năm Canh-ngũ, sãi nước Liêu là Đạm Si lãnh về, giao cho Phạm nhứt Chơn là Vật Mê đạo -nhơn truyền cho đời . Sau ta đã dọn 20 khoảng xin chỉ ân -xá, giáng bút đem vào sau Ngọc -lịch . Thượng -đế truyền chỉ các thành hoàng mỗi ngày Canh-thân sai du thần đi xét những người tin Ngọc -lịch ăn năn chừa lỗi làm lành, thì cho tiêu tội, ai khắc bản in thí thì cho phước, có bịnh hứa in mà cầu tiêu bịnh lượng theo số mà cho . Bất luận cầu việc chi, cũng cho nguyện in thứ Ngọc -lịch cho nhiều thì đặng . Nay khắc bản thêm, xin ta cho tựa ta nói thêm ít lời . Sự thiên -đường địa -ngục rõ ràng, đừng nghi không có, cứ làm dữ mà mang khổ . Y theo Ngọc -lịch, ăn năn chừa lỗi, làm lành làm phước chuộc tội, công lớn thì theo tiên Phật thánh thần, dư phước đức con cháu được hiển vinh miên viễn . Lành ít sau khỏi sa địa -ngục, đầu thai hưởng phước . Khuyên đời chớ hồ nghi .

LIỄU -TIÊN GIÁNG CƠ TỰA CHÓT

Thượng -đế cho tựa kinh nầy là Từ -ân Ngọc -lịch, nghĩa là như lịch ngọc thường ngày xem, ban ân xá, tha tội kẻ ăn năn . Nếu làm một phước cho trừ hai tội cũ . Làm dư phước thì Táo -quân tâu thưởng nhiều sự may, vân vân .

Posted in THAM KHAO | Leave a comment