Hồi dương nhân quả: Án thứ ba mươi mốt – Án thứ bốn mươi ba:

Hồi dương nhân quả

(Sự tích ông Lâm Tự Kỳ bị quỷ bắt lầm, sống lại thuật chuyện tai nghe mắt thấy ở cõi âm. Nhứt Điện Vương xử 43 án và nhờ uống Phát Huệ nên lúc sống lại mới nhớ mà thuật lại)

Án thứ 31: Phán quan đọc án kế: “Họ Viên ở huyện Quan San, lập tiệm cầm đồ, ăn lời quá phép, mà không chế 1 ly. Còn trong nhà cho vay, cho giạ non, thâu giạ già. Trong tiệm dùng cân hai đáy (trái cân), cho ra thì dùng trái cân nhẹ, thâu vô đổi trái cân nặng. Bởi cớ ấy nên giàu bằng nhà nước. Làm cho trời giận thần hờn. Bị hỏa tinh đốt nhà là lửa trời sa cháy tiêu sự sản. Ba mươi lăm tuổi chết yểu, vợ con cũng thổ huyết chết luôn!”

Phán: “Ăn lời quá phép, đã phạm tội nơi trời, huống chi cân lận, đong nhẹ giạ già giạ non, lường gạt của chúng cho nặng túi tham. Tưởng gạt chúng hóa ra gạt mình, mong hại đời chẳng ngờ hại mạng. Cả đời lường gạt của chúng mà còn hay không? Chẳng giữ lương tâm, ba đời chịu khổ. Tuy bị cháy nhà cửa mà chưa hết tội. Giao tờ qua vua Đông Nhạc, phạt đầu thai làm ngựa trạm thơ, bị chúng cỡi mãi đánh hoài, chạy lao quá cho tới chết. Đầu thai làm ngựa ba kiếp như vậy, mới đặng đầu thai làm người nghèo”.

Án thứ 32: Phán quan đọc án kế: “Họ Hồng ở huyện Thiện Hưng cha làm chức điển lại, ở huyện Võ Xương, hồi nhỏ họ Hồng bị cha không ưa, tức mình cạo tóc vô chùa. Sau phạm luật về thế để tóc, ngã mặn như kẻ ở thế tục. Gặp ai cũng xảo, không tiếng thật thà. Sau lưng hay nói hành việc của chúng! Hay kẻ vạch sự tư tình của người và nói chuyện phụ nữ hoa nguyệt, xúi giục gây gổ, thêm thừa thêu dệt nhiều điều, làm những chuyện trái phép”.

Phán: “Tên này tội nặng khó dung”. Phán quan tâu: “Tên này không dữ chi lắm, chỉ ác khẩu mà thôi”. Phán: “Tội ác khẩu có ba điều, tên này gồm hết. Nói láo về sự tục tĩu, là phạm chữ dâm sĩ, bất thông như đứa điên. Nói láo thêm thừa cho chúng giận nhau mà đâm chém. Nói láo gạt người mà lấy của, phạm chữ gian tham. Té ra một sự nói xảo, mà gây ra chữ dâm, chữ si, chữ sân, chữ sài, chữ tham, chữ gian đạo. Phán quan còn gọi tội ác khẩu là tội nhỏ sao? Truyền xẻ miệng bớt môi, khẻ răng, kéo lưỡi mà hành tội ác khẩu, tuy còn sống đã phạt tuyệt tự, mà chưa hết tội, nay phạt cầm hoài địa ngục, không đặng luân hồi”.

Án thứ 33: Phán quan đọc án kế: “Vợ họ Uông là nàng Trình Thị ở huyện Giang Hạ, nguyên kiếp trước ăn chay, cử sát sanh, làm lành, hay bố thí, có hiếu với mẹ chồng, nuôi đau hết lòng hết sức, bởi chưa đủ công hạnh, nên cho đầu thai kiếp này mà hưởng phú quý làm con nhà quan giàu; lại gặp chồng lương thiện sanh ba trai hai gái, định số sẽ sống 82 tuổi, không bệnh mà mãn phần. Không dè bị cha mẹ cưng quá, vì con quan, nên quen thói đỏng đảnh hồi nhỏ, nhà có tôi tớ, nên quen thói làm chủ nhà hay mắng nhiếc hành hạ kẻ dưới tay, tập tánh đã quen, nên độc dữ lắm; đến khi có chồng hiền hậu thì ỷ thế giàu sang nên chuyên quyền, hiếp chồng quá lẽ. Vả lại quen thói ăn sung sướng, nên sát sanh hại mạng rất nhiều. Cho vay ăn lời quá phép, khắc khổ tá điền, đã bắt làm công không, thất mùa cũng không châm chế chút nào! Thuở nay chẳng hề bố thí cho bà con nghèo đồng điếu nào, có đâu bố thí cho người dưng. Ngày nào cũng chửi tôi tớ. Đánh chết tớ gái là Vương Nguyệt Mai, lại còn khoét mắt tớ trai là Trương Hưng Nhi bị đau nhức tới chết. Lại còn phạt tớ gái là Ngô Hà Hương, bắt ăn đậu nành sống cả tô sình bụng ba ngày mà chết! Còn nhiều đứa tớ khác bị thương tích, tai mũi chân tay môi miệng đều tì vết! Có kẻ đem sự báo ứng nhân quả mà khuyên giải thì Trình Thị ỷ con nhà lớn quan to, nên mắng nhiếc kẻ giảng nhân quả và nói rằng: “Ta giàu sang, cơm no ấm áo, con cháu đầy nhà, ta thuở nay lại mấy bố thí cho ai, mà phước đó? Ai tin ngươi nói phải tu nhân tích đức mới sống lâu tới bảy tám mươi?” Nói rồi đuổi đi lập tức. Mấy lời ấy Táo Quân cũng tâu tới Thiên đình, và lại mỗi tháng chạy tờ về Cửu Thiên Tư Mạng chánh, đều biên tội Trình Thị đã nhiều. Các hồn oan cũng cáo nữa. Ngọc Đế truyền bớt ba kỷ, cho bắt hồn Trình Thị đặng trị tội nên mới 46 tuổi mà chết”.

Phán rằng: “Không kính trọng chồng, là tội thứ nhất theo luật trời không tha đặng. Huống chi độc dữ khắc khổ tôi tớ, hại oan ba mạng. Tánh độc dữ hơn cọp không phải lòng người, đáng cầm địa ngục, không đặng đầu thai nữa”. Phán quan tâu: “Trình Thị nguyên kiếp trước tu hành có hiếu với mẹ chồng lắm. Còn đời nay người con gái lớn Trình Thị, thấy người mẹ hỗn với cha, và ở độc dữ, nên tu hành tụng kinh niệm Phật, làm phước bố thí, mà cầu cho mẹ tiêu tội, cũng như tu thế cho mẹ nó. Vậy xin vương gia cho luân hồi trả quả, chừng hết nợ trước sẽ xử nữa”.

Phán: “Nếu con gái nó tu thế như vậy, thì trẫm tha tội cầm ngục, cho đặng luân hồi. Kiếp thứ nhất cho nó đầu thai làm đàn bà nghèo khổ đói rách cả đời, cho hồn Hà Hương vào bụng nó làm quỷ thai đau đớn đến kiếp, tới ba năm phát bệnh điên mổ bụng mình và cắt ruột mà chết, đặng trả quả bắt Hà Hương ăn đậu nành sống sình bụng mà chết. Kiếp thứ nhì, đầu thai làm con câm, ghẻ chốc cùng mình đi xin tới 50 tuổi, ăn cắp gạo nhà họ Trương, bị con gái họ Trương (là hồn Vương Nguyệt Mai đầu thai) đánh chết, mà đền mạng oan kiếp trước. Kiếp thứ ba, làm con gái 18 tuổi, bị du côn (là hồn Trương Hưng Nhi đầu thai) đâm đui cặp mắt và đứt gân, lết ngoài chợ xin ăn tới chết, thì trừ mới rồi ba mạng. Trong ba kiếp ấy hành tội câm, ghẻ, đói, lạnh, cực khổ, đi xin, là đền tội hiếp chồng và làm giàu bất nhân đó. Như trong ba kiếp chịu khổ, biết ăn năn ở hiền lành, thì sẽ châm chế cho kiếp khác”. Trình Thị tâu rằng: “Chồng tôi khờ dại tệ quá, chẳng biết lo việc nhà, tôi không rầy sao đặng? Xin Vương gia xét lẽ phải mà thứ dung”.

Phán: “Đàn bà có đạo tam tùng, khi còn ở nhà, tùng quyền cha mẹ, xuất giá tùng quyền chồng, chồng thác tùng quyền con trai, phần phụ nữ không đặng làm chủ. Chồng ngươi là kẻ hiền hậu, ngươi lại chê rằng khờ dại, mà hỗn hào khi dễ trăm bề. Đến nước này, mà ngươi còn chưa biết tội sao?”

Trình Thị tâu rằng: “Tội tôi hỗn với chồng đã đáng. Còn như đánh tôi chửi tớ, là tại chúng nó làm công việc không xong, mà lại ăn vụng làm biếng trăm bề hư hết. Vả lại chúng nó tánh ở ngang ngạnh, là tại chúng nó không vâng theo, ngu mê ám chướng không hiểu việc chi. Tại chúng nó chướng như vậy, là nó bảo phải đánh nó, xin vương gia xét lại”.

Phán: “Thuở nay kẻ hầu hạ, tâm tánh chúng nó không phải như người bậc thượng: hoặc là hồn cầm thú đầu thai, hoặc người dữ đầu thai lại, bị mất tánh thông minh, phú tánh ngu độn theo kẻ hạ tiện; vả lại đầu thai làm con nhà hèn hạ dốt nát, thì tánh nó thô tục ngang dọc, cứng đầu cứng cổ, ngu mê ám chướng, là lẽ trời định tự nhiên. Mình là người bề trên, cơn bình phải thủng thẳng mà dạy dỗ, đến việc làm, phải thích nghĩa cho rành, và dặn đi dặn lại. Dầu chúng nó lầm lỗi, cũng tùy tội nặng nhẹ mà răn, lẽ nào nóng nảy mà đánh chửi mãi, đánh quá cho chúng nó hoảng hồn phát điên. Sao chẳng xét, chúng nó cũng là con cái nhà lành, vì nghèo quá mới cắt ruột mà bán cho mình làm tôi mọi, tuy tiếng là thầy với tớ, chúng nó cũng như con cái trong nhà, việc ăn mặc, đau mạnh, khỏe mệt mình phải biết thương chúng nó. Bởi cớ ấy tớ trai cũng như con trai nuôi, tớ gái cũng như con gái nuôi. Lẽ nào ở độc mà khắc khổ? Giả tỉ con gái ngươi bị người đánh chửi, ngươi có đau lòng hay không? Còn ngươi cho tôi tớ ăn không no, mặc không lành, lại nỡ lòng hành hình trái phép, hại tới ba mạng. Thiệt là không sợ luật trời, còn dám nhiều điều cãi lẽ. Mau dẫn nó đi đầu thai”.

Án thứ 34: Phán quan đọc án kế: “Họ Châu ở huyện Hớn Dương, từ hồi nhỏ lập tiệm bán hàng xén, các trái cây, đồ dồng thiếc và các món nhỏ mọn lẻ loi. Thường dùng giấy chữ mà gói các món đồ bán. Bình thường hay lấy giấy chữ mà chùi bàn ghế, chỗ nào nhơ uế, cũng lấy giấy chữ mà chùi, và quét đổ nơi hầm dơ 24 năm như vậy.

Còn vợ họ Huỳnh là Khương Thị, ở huyện Hiếu Cảm có 2 đứa con đi học, mỗi ngày Khương Thị lấy giấy lộn (giấy chữ) để dành bồi hồ bao độn đáy giày, hoặc đi sông, bồi vách, hoặc cuốn làm rọi để hút thuốc, hoặc vò cho nhừ làm chó lén, hoặc để nhúm lửa; như vậy năm năm.

Còn họ Mai ở huyện Táo Dương, là tú tài dạy học trò hay đạp giấy chữ, các học trò bắt chước, cũng hủy giấy chữ, chẳng biết trọng chữ, lấy chùi đồ, hoặc đốt mà hút thuốc, làm thường vậy đến 22 năm. Ba tên phạm ấy đồng tội”.

Phán: “Trong sách có chữ trời đất quỷ thần, tên ông bà cha mẹ, trong giấy chữ đều có. Nếu không chữ, thì đạo lý chẳng rành, sao có kinh sách? Nếu đạp hủy giấy chữ, cũng như đạp hủy trời đất, quỷ thần, thánh hiền, ông bà, cha mẹ. Họ Mai nhờ chữ nghĩa mà hiển vinh, nhờ chữ nghĩa mà no ấm, mà dám đạp hủy giấy chữ 22 năm, cho các học trò bắt chước, tội ấy về người hết. Ba phạm ấy đều bị cầm nơi địa ngục không đặng luân hồi”.

Án thứ 35: Phán quan đọc án kế: “Họ Dư ở huyện Miễn Dương nhà cũng khá, mà ở bất hiếu. Nuôi vợ con ăn mỹ vị, bận đồ tốt. Còn cha mẹ bận lấy có. Cha mẹ phiền trách, nó trả lời rằng: Cha mẹ để gia sản chi đó, mà bắt lỗi nuôi ăn mặc không xứng đáng? Nó lại mắng thêm, làm cho cha mẹ nó buồn rầu tức tối trọn đời”.

Phán: “Họ Dư tuy dốt, há không biết ơn cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng, trở lại trách cha mẹ không sự sản, không nuôi cha mẹ, mà lại nuôi vợ con tử tế. Nếu vậy vợ con có để gia sản cho ngươi sao? Ngươi bất hiếu thiệt không bằng súc vật. Phạt nó đầu thai làm trâu ba kiếp, ra sức cày ruộng mà nuôi thiên hạ, chết rồi còn bị chúng xẻ thây, mà đền tội bất hiếu”. Phán quan tâu: “Tên phạm này có xí được một trăm lượng bạc, cho lại kẻ làm mất, đền ơn nó cũng không ăn nên kẻ rủi mất bạc trở ra may, nội nhà khỏi hại. Âm chất ấy cũng đáng chế bớt tội ngỗ ngịch”. Phán: “Như vậy thì chết khỏi làm trâu ba kiếp, cho đầu thai làm ăn mày chết đói hai kiếp. Nếu biết tu sẽ hay”.

Án thứ 36: Phán quan đọc án kế: “Vợ họ Lý là Trần Thị, ở huyện Huỳnh Mai, thủ tiết, mà bất hiếu với cha mẹ chồng. Cha chồng bóng quáng, mẹ chồng phong bại, Trần Thị cho ăn mặc lấy có, đến đỗi đói lạnh mà chết”.

Phán: “Đàn bà có chồng thì tùng quyền chồng, cha mẹ chồng là cha mẹ ngươi. Ngươi đã biết thủ tiết, thì phải ở có hiếu với cha mẹ chồng, thay mặt cho chồng mà nuôi cha mẹ, thì tiết hiếu song toàn. Thời khi còn sống vua quan phong tặng, thác rồi lại đặng thành thần; mới là trọn lành, thần kiêng quỷ sợ. Sao lại phạm tội bất hiếu, đáng đọa địa ngục, không đặng đầu thai”. Phán quan tâu: “Nàng này giá chồng hồi còn xuân, thủ tiết ba mươi mấy năm cực khổ, xin vương gia châm cho đặng luân hồi”. Phán: “Trẫm cũng vì sự thủ tiết, mở đường mọn cho nó đặng đầu thai làm heo cho chúng phân thây, mà trừ tội bất hiếu cha mẹ chồng”.

Án thứ 37: Phán quan đọc án kế: “Họ Hồ ở huyện Lâm Lương đậu tú tài, tánh ở độc bạc, hay nghe lời vợ mà ngỗ nghịch song thân. Lại thấy anh em thật thà dốt nát, nên chia phần ăn để ruộng hèn, nhà xấu, đầy tớ dở cho người anh. Còn chia phần ăn cho người em rồi, sau em thác, em dâu là Lý Thị không con, nên nuôi con người anh cả làm con mà lập tự cho chồng. Họ Hồ muốn đoạt gia sản của em dâu, nói vu oan rằng: Lý Thị tiếng thủ tiết mà tư tình chửa hoang, dựng đứng đủ cớ. Lại mướn bà mụ nghiệm xét, cũng nói Lý Thị thiệt có thai. Lý Thị tức mình, mổ bụng trước mặt quan mà chết, làm cho nhiều người chứng ăn tiền, đều mắc họa với bà mụ. Như vậy họ Hồ bị ba tội nặng, mau xử mà răn đời”.

Phán: “Họ Hồ đậu tú tài thì đã thông kinh Thi, kinh Lễ, sao mà bất hiếu bất đễ tới thế?”.

Tâu: “Tôi hồi còn nhỏ có học kinh Thi, kinh Lễ cũng biết hiếu cha mẹ, thương anh em. Tại vợ tôi học hay mà ở độc, nó xúi các việc bất hiếu bất đễ. Tôi dại nghe lời, nhờ vương gia rộng dung”.

Phán: “Tội vợ ngươi Mã Thị, ông Táo và du thần, tâu cáo nơi thiên đình đã lâu, tự nhiên phạt tội một cách nặng nề. Ngươi há chẳng biết: chồng cầm quyền vợ, vợ phải nghe lời chồng dạy, lẽ nào chồng nghe lời vợ dạy hay sao? Nếu ngươi thiệt tình hiếu đễ. Vợ ngươi lẽ nào dám bất hiếu bất đễ. Nay ngươi bất hiếu với cha mẹ, khi anh bất thông hiếp em dâu thất thế mà còn nỡ nào vu oan làm bức cho tiết phụ liều mình? Thiệt tánh độc hơn rắn bồ cạp, không bằng loài chó heo. Phạt đọa địa ngục A- Tỳ, hành tội liền liền, quăng lên núi đao, rồi bỏ xuống ao nước sôi, xay giã nấu dầu, thiêu ra tro, rồi hườn hình lại, như vậy luôn luôn, không đặng đầu thai nữa”.

Án thứ 38: Phán quan đọc án kế: “Họ Lưu ở huyện Bành Ly, hồi nhỏ học thợ mộc, hay ếm hại chủ nhà, hai mươi năm như vậy. Hay chửi mưa nắng, vì hư việc của nó”.

Phán: “Ngươi làm thợ mộc, ếm hại chủ nhà. Tuy ngươi ếm người không nổi, song cái lòng độc ác của ngươi, quỷ thần đã ghét lắm. Huống chi mưa gió mây sấm trời đất đều do các vị thần linh cai trị. Sao ngươi dám mắng mưa chửi gió xúc phạm trời đất thần linh. Cớ nào ở độc và điên cuồng đến thế? Trời sai thiên lôi đánh ngươi chết, mà trừ chưa hết tội. Nay phạt ngươi làm ăn mày câm và điếc, mãn kiếp chết xuống đây sẽ hay”.

Án thứ 39: Phán quan đọc án kế: “Họ Từ nước Vệ, huyện Kim Sàn. Hồi nhỏ ngang dọc, không tin sự báo ứng tội phước nên không kính thánh thần. Gặp thầy chùa, thầy tu hoặc ăn mày, đều không bố thí, mà lại mắng thêm. Lòng ở bất nhân, hay giết rùa, đập rắn, giết loại trùng dế rất nhiều. Say rượu hay phá quán, đánh lộn ngoài chợ. Lúc say rượu kia, đánh chết đứa con đẻ mà không biết thương”.

Phán: “Không có lòng nhân thương xót, là chẳng phải con người. Rất đỗi thấy đứa con nít nhỏ, bò gần miệng giếng lòng còn thương, bất nhẫn mà bồng ra cho xa, huongs chi con đẻ của mình mà đánh chết? Hùm dữ còn chẳng nỡ ăn thịt con, lòng thằng này thiệt độc hơn cọp, tuy ở dương gian đã bị cầm ngục cho tới rũ tù, nay nấu dầu mà đốt cho đáng đời, rồi sẽ đi đầu thai làm súc vật”.

Án thứ 40: Phán quan đọc án kế: “Họ Nhan ở huyện Quan Hóa, tánh ở không tốt, hay giấu việc của người, thuật việc hư của chúng. Kể nói cho sướng miệng, không cần việc có việc không. Muốn đọc cho trúng câu, chẳng kể nói chơi nói thiệt. Làm cho đàn ông con trai mất tiếng khen, đàn bà con gái mang danh xấu, những tội ấy kể không xiết, nghị phạt tội cho mau”.

Phán rằng: “Họ Nhan là mặt người nói ngay, không cần danh tiếng chúng. Tội độc ác quá rồi, giam vào ngục cắt lưỡi”.

Án thứ 40: Phán quan đọc án kế: “Họ Nhan ở huyện Quan Hóa, tánh ở không tốt, hay giấu việc của người, thuật việc hư của chúng. Kể nói cho sướng miệng, không cần việc có việc không. Muốn đọc cho trúng câu, chẳng kể nói chơi nói thiệt. Làm cho đàn ông con trai mất tiếng khen, đàn bà con gái mang danh xấu, những tội ấy kể không xiết, nghị phạt tội cho mau”.

Phán rằng: “Họ Nhan là mặt người nói ngay, không cần danh tiếng chúng. Tội độc ác quá rồi, giam vào ngục cắt lưỡi”.

Án thứ 41: Phán quan đọc án kế: “Họ Giám ở huyện Nghị Thành, đậu Tú tài, có khoa ngôn ngữ, hay kiêu ngạo mắng nhiếc người và nói trây nói nhớp theo việc tục tĩu. Thường lấy các câu trong kinh sách, nói bức khúc, thích nghĩa bậy mà cười, đáng tội lắm”.

Phán: “Ngươi đọc sách thánh hiền, lại diễu lời thánh hiền. Có tài trí thông minh, không giúp việc phải, lại đem tài trí mà giễu cợt, nói kiêu ngạo cho trời đất ghét, mà tổn đức mình, làm chúng cười một chút, không ích chi cho mình, thiệt là ngu quá! Cho đầu thai làm đứa ăn mày câm cho hết nói nữa!” Phán quan tâu: “Họ Nhan với họ Giám, đều phạm khẩu quá, tội ấy cũng nhỏ xin Vương gia rộng dung.”

Phán: “Tội lời nói tuy là nhỏ mọn, nhưng mà bày sự tư, tỏ sự kín của người và lại chưa dọ cho chắc nghe lưu truyền mà nói ra như mắt thấy. Những người hay nói chắc, không vị không giấu, mà nói bóng gió điều chi, ai cũng tin chắc. Huống chi thiên hạ ưa nghe chuyện mới chuyện lạ, phân nửa không tin, chớ tin cũng hết phân nửa, làm cho người hư danh xấu tiết, đến nỗi trên ông cha mang nhục, dưới con cháu hổ hang. Có khi nói chúng tức tối hổ thẹn mà liều mình, tội lớn vô cùng, sao gọi là lỗi nhỏ”. Phán rồi y án, không chế chút nào.
Án thứ 42: Phán quan đọc án kế: “Vợ họ Chúc là nàng Cát thị ở huyện Dực Dương. Tánh hay nghi ngờ, lòng ở độc hiểm hay xui chúng rầy rà, làm cho bà con rời rã, như là: cha con mẹ con bỏ nhau anh em vợ chồng xa nhau. Phàm gặp đàn ông con trai cũng nghi, nếu gặp sự chi mất lòng, thì vu oan cho người ấy là loạn luân. Gặp phụ nữ cũng sanh nghi, nếu bất bình thì vu oan rằng nàng ấy ngoại tình lang chạ. Những gái đồng trinh hoặc người thủ tiết, đều bị nó vu oan, dẫu bà con hoặc chí thân, nó cũng không chừa nữa. Nó vu cho Chương thị, Chương thị tức mình phát bịnh thác! Lại nói vu oan cho người em trai chàng hàng bên chồng rằng chú ấy muốn lấy con gái! Người em chồng tức mình, nhảy xuống sông mà trầm mình. Mau định tội răn đời”.
Phán: “Cát thị tánh hay hồ nghi, lòng độc như rắn bò cạp, lưỡi bén như gươm, lại chúng hư danh liều mạng. Trong đám phụ nữ có loài bất lương ấy, không còn án nào mà hơn nữa . Truyền cắt lưỡi, đục răng, cắt môi cầm tại ngục A tì mà hành mãi, không đặng đầu thai. Phán quan thâu hồn đứa con trai với đứa con gái nó, cho hết dòng thèo lẻo”.

Phán quan tâu: “Chồng nó là họ Lương, hiền hậu làm lành, có khắc bản kinh Cảm Ứng in mà cho người, tới 7.534 cuốn, khuyên dạy người đời, cải ác tùng thiện công đức rất lớn, nỡ tuyệt hậu người”. Phán: “Nghĩ chồng ngươi hiền lành, người lành phải có hậu, nên tha cho hai đứa con. Còn ngươi tội ác thái quá, cầm ngục hoài không luân hồi”

Án thứ 43: Phán qua đọc án kế: “Phan thị nhan sắc xinh tốt mà tham dâm, chê chồng xấu tướng, lộn chồng lấy các tay điếm đàng, thả lắm đau ghẻ lở mình mà chết”

Phán: “Nhơn duyên trời định, có số giàu nghèo. Ngươi là đàn bà xấu nết, không biết hổ thẹn, chê chồng xấu mà lộn chồng, lại ngoại tình lang chạ. Thấy chúng giàu sang, tức mình nghèo khó, ỷ mình bóng sắc, chê chồng xấu xa không xét nết lăng loàn mà chê chân chất, chê chồng già mà mê chồng trẻ, trách cha mẹ định không xứng lứa vừa đôi. Thờ chồng không trọn đạo, hoang nết chẳng nên người. Đứng đường bán dạng thuyền quyên, đánh bóng nhem trai hoang đảng. Tội tà dâm đại ác không dung. Phạt đầu thai làm heo nái hai kiếp, cho đáng tội lộn chồng, rồi sẽ xử nữa. Truyền quỉ sứ cho máy răng sắt nhai nó, rồi cho đầu thai”.

This entry was posted in THAM KHAO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s