Hồi dương nhân quả: Án thứ hai mươi mốt- Án thứ ba mươi:

Hồi dương nhân quả

(Sự tích ông Lâm Tự Kỳ bị quỷ bắt lầm, sống lại thuật chuyện tai nghe mắt thấy ở cõi âm. Nhứt Điện Vương xử 43 án và nhờ uống Phát Huệ nên lúc sống lại mới nhớ mà thuật lại)

Án thứ 21:

Phán quan đọc án kế: “Lý Khải Nương là con đầy tớ nhà Mễ. Làm đổ gạo trong bếp, dính trên miệng lò, hủy hoại của trời hơn mấy năm, kể chẳng xiết (là đổ đồ ăn). Hay ăn vụng ăn cắp của chủ, mà đổ thừa cho người, hại con đầy tớ khác phải đòn, hay láy bậy và dắt trai vào nhà, tư tình với chủ gái, tội ấy đã nhiều. Lại hay cải giá, tính đã ba đời chồng, tội nặng quá lẽ”.

Phán: “Ngươi kiếp trước làm nhiều điều dữ, nên phạt người làm tôi mọi. Sao không biết xét, tuy là người mà làm mọi cũng như ngạ quỷ, súc sanh bị cầm địa ngục, ba điều khổ ấy, hãy còn chưa biết ăn năn lo tu mà nhờ kiếp khác”.

Phán quan tâu: “Mọi gái cũng con người, sao gồm ngạ quỷ súc sanh địa ngục?”. Phán: “Tôi mọi ăn uống không đặng tử tế, khác nào ma đói. Không ai lễ mà đãi, khác nào súc sanh. Không có được chồng sanh con, thường bị cấm cố, khác nào cầm ngục. Nay không chừa lỗi, còn xử thêm cách nào, phải hành cho đủ tam đồ mới đáng, không đặng đầu thai”.

Án thứ 22:

Phán quan đọc án kế: “Lưu Thất Nương ở huyện Quế Lâm bốn mươi tuổi mà không con, tính đa dâm và ghen lắm! Chồng muốn cưới thiếp. Thất Nương không cho. Chồng lén cưới vợ bé, gửi lối xóm. Thất Nương hay tin bắt vợ bé đặng, lấy bàn ủi ủi phỏng mình, lở thúi mà chết!”.

Phán: “Cấm chồng cưới, cho tuyệt tự thờ mình, lợi ích chi đó. Huống chi hành hình cách thảm mà giết người, chắc dung không đặng”.

Thất Nương tâu: “Đàn ông không con, cho phép cưới thiếp, còn đàn bà không con, chẳng cho cải giá, việc ấy mất công bình, thiệt xử hiếp tôi lắm”.

Phán: “Loài súc sanh không biết hổ ngươi, hãy còn cãi rán! Buong lời nói hư phong hóa, không biết hồi sống mi kiềm chế chồng mi ra thế nào? Tính đa dâm ghen tương như mi, đáng phạt đầu thai làm con điếm, ba mươi tuổi mắc ghẻ độc thúi lầy cả thân mình, bỏ thây dọc đường, chó heo ăn thịt cho bõ ghét”.

Án thứ 23: Phán quan đọc án kế: “Tào Thị là gái xằng, ở huyện Ngô Giang là kế thất họ Chữ ở quận Trường Sa. Họ Chữ thác sớm. Tào Thị khắc khổ con ghẻ trăm bề. Các việc ăn mặc đều thua con chung. Tới lúc tương phân thì chia phần hơn phần tốt cho con mình. Lại khắc khổ dâu ghẻ, tới nỗi tức tối sinh bệnh mà chết!”

Phán: “Con ghẻ thờ mẹ ghẻ có hiếu cũng như thờ mẹ đẻ một thể. Sao mẹ ghẻ khắc khổ con ghẻ dâu ghẻ đến thế, thiệt là lòng như cầm thú, đáng đầu thai làm súc vật mới đáng tội”

Phán quan tâu: “Tào Thị đến già lòng thành niệm Phật và ăn chay cử sát sanh ba năm ăn năn đền tội, cầu siêu độ phần hồn”. Phán: “Vậy thì khỏi đầu thai làm súc vật, song phải luân hồi là tôi mọi con dâu ghẻ, mà đền tội trọn đời”.

Án thứ 24: Phán quan đọc án kế: “Mười lăm vị hòa thượng phạm tội dữ”. Vua phán: “Các sãi xuất gia đi tu, lẽ thì thành làm phật tổ, cớ nào đeo đính bài tội dữ?”

Mười lăm hòa thượng tâu: “Nhờ vương gia từ bi dung thứ”.

Phán rằng: “Các sãi có hay tờ điệp của Phật Thích Ca mới gửi đến đây chăng?”

Đồng tâu: “Chúng tôi chưa hay”.

Vua mở điệp văn đọc lớn rằng: “Chùa chiền đời nay đã biến hư lắm, mối đạo Phật lưu truyền đã mỏn rồi, như ngọn đèn gần tắt. Các sãi tuy tiếng đi tu, thiệt nhiều người dối tệ. Trong một ngàn hòa thượng, lựa đặng chừng một hai người xứng đáng, không hổ thẹn mà thôi! Cõi âm phủ phải tra xét cho hẳn hòi, đừng lầm các sãi dối thế”.

Đọc rồi phán rằng: “Các sãi đã thấy điều luật của các sãi tại cửa này chăng?”

Đồng tâu: “chưa thấy”.

Phán rằng: “Để trẫm giảng các tội án trong điều lệ tu hành cho mà nghe. Các sãi tuy đi tu, mà trong lòng khác nhau hết: Có kẻ cư nghịch với cha mẹ, giận lẫy mà đi tu, là tội bất hiếu lớn thứ nhất, còn nói làm chi! Có kẻ giận anh em vợ con mà đi tu. Có kẻ bị cách xấu, mắc cỡ mà đi tu. Có kẻ quyết trốn xâu lậu thuế, vì đói rách mà đi tu. Có kẻ mê cảnh chùa tốt mà đi tu. Có kẻ mê mấy sãi nhỏ có bóng sắc muốn nhập vào cặp xách mới đi tu. Có kẻ ham làm chức hòa thượng sang trọng mà đi tu. Có kẻ mồ côi không ai nuôi mà đi tu. Có kẻ vô hậu không ai hoạn dưỡng mà đi tu. Có kẻ ngán việc đời là cuộc giả, mộ đạo Phật là siêu độ linh hồn mà đi tu. Các sãi ai tu về cớ nào thì khai thiệt?” Các hòa thượng đồng tâu: “Xin vương gia từ bi thẩm xét, thiệt chúng tôi ngán việc đời, nên xuất gia đầu Phật mà cầu siêu độ linh hồn, chớ không có ý chi khác”.

Phán: “Các sãi đời nào xưng tội, mấy thuở chịu khai!” Truyền chỉ Phán quan dẫn các sãi đến đài Nghiệt Cảnh chiếu thử. Nguyên tại Nhứt điện là cửa đền thứ nhất, vua Tần Quảng có lập cái đài Nghiệt Cảnh phía bên hữu cái điện chánh. Đài ấy cao mười một thước, trên có treo cái mặt kiếng Nghiệt Cảnh lớn mười người ôm mới giáp vòng bề tròn treo kiếng qua hướng Đông, trên giá treo mặt kiếng ấy có đề bảy chữ rằng:

Nghiệt Cảnh đài tiền, vô hảo nhân

Thích nôm: Trước đài Nghiệt Cảnh không người lành

Các hồn chối án, thì quỷ sứ dẫn lên đài, mà ngó vô mặt kiếng, thì thấy hiện nguyên hình từ nhỏ tới chết, làm những việc chi đều ứng hiện hình thù như hát bóng đủ lớp, nhớ lại nên chối không đặng. Vua Tần Quảng mới y luật mà xử, hoặc giải qua chín cửa đền khác, v…v… (8 cửa có ngục mà thôi).

Khi ấy các sãi, từ người soi kiếng đủ mặt rồi coi lại không có thầy nào chân tu mộ đạo cho thiệt tình! Coi ra ba sãi ăn mặn uống rượu. Một sãi tà dâm, hãm hiếp. Bốn sãi mê các đạo nhỏ thanh sắc. Bốn sãi tham bạc, ăn gian của chùa. Trừ ra có ba sãi, cứ sớm tối tụng kinh, công phu cất chùa, lên cốt Phật, lo làm công quả trong chùa, chớ không thông mùi đạo.

Vua cười ngất phán rằng: “Hèn chi Đức Thế Tôn quở trách các ngươi làm hư trong đạo Phật!” Liền phạt một sãi gian dâm với bốn sãi mê đạo chúng thanh sắc, cộng một bọn tà dâm năm sãi, đồng giam vào ngục Tăng nho mới lập, không đặng luân hồi. Còn bốn sãi rượu thịt, đầu thai làm heo bà kia ăn cám hèm cho đã. Lại còn bốn sãi ăn gian của chùa, phạt làm lừa ba đời, chở đồ đi xa mà đền ơn cho các chủ bố thí (vì tham của nên cho chở đồ nhiều mới toại chí!) Trừ ra ba sãi thiệt thà, tuy quyết chí đi tu mà chưa thông đạo vị, nên cho đầu thai làm thầy chùa mà tu nữa; nếu siêng tu hành rõ thấu ba bực thì cũng được khỏi đọa. Đều giải qua vua Đông Nhạc (vua thứ mười- Chuyển Luân Vương) đi đầu thai.

Án thứ 25: Phán quan đọc án kế: “Họ Gia ở huyện Văn Mộng đưa đò dọc sông Bà Dương. Tháng chạp năm Nhâm Thân, lén giết một người bộ hành lấy đặng ba mươi lăm lượng, vị chúng cáo, quan tra không đủ cớ tha về. Sau mang bệnh nghèo khổ, đi ăn mày. Tới 38 tuổi, biết tội mình mới đi tu. Cứu trùng, kiến nhiều lắm, lượm giấy chữ cũng nhiều. Ăn chay làm lành thường bữa tụng kinh niệm Phật. Tu hai mươi năm như vậy, mà cầu tiêu tội sát nhân, và nhờ phúc kiếp sau”. Phán: “May ngươi ăn chay làm lành, niệm Phật tụng kinh sám hối (ăn năn cầu tiêu tội). Huống chi đã phạt làm ăn mày, đày đọa đến kiếp, nên trừ tội giết người mà lấy của”. Họ Gia tâu: “Tôi trước đại phạm tội, sau ăn năn tu hành. Xin vương gia xét lẽ cho tôi nhờ”. Phán: “Ngươi hãy đứng một bên, đợi trẫm xử án khác rồi sẽ định”.

Án thứ 26: Phán quan đọc án kế: “Họ Lâm huyện Bành Thạch ông cha có làm phước giúp người. Còn họ Lâm kiếp trước là thầy tu, ăn chay bố thí 545 đôi giày rơm, trời lạnh bố thí cộng 65 chiếc chiếu. Nên đời nay 23 tuổi mà thi đỗ cử nhân, đậu rồi không giữ lòng lành. Tư tình với Kim Thục Cô, là gái ở một xóm rồi bỏ, nàng ấy tức mình thắt họng mà chết. Vả lại nết tham, lãnh việc kiện mướn, đem mối kiện thưa. Ra vào chốn nha môn lo lót cho chúng, bởi cớ ấy, giựt được vài trăm mẫu ruộng trong làng. Ăn thập trai chưa đầy một tháng ngã. Lại nói: Dẫu ngã mà kiếp sau làm ăn mày cũng chịu. Quan Âm, Chuẩn Đề đã phú Táo Quân dâng sớ tâu trên Ngọc Đế phân: Bỏ lệ chay kỳ là phạm luật Phật, nên phạt tội”.

Vua phán: “Ngươi nhờ đức tổ phụ và kiếp trước có tu, mà thi đỗ cử nhân đáng lẽ tu thêm phước đức. Nào hay mê muội hung hăng làm dữ, lại nói ngã chay, nguyện làm ăn mày. Đáng lẽ cho hành đủ tam đồ. Song nghĩ ngươi thờ Quan Đế với thờ Quan Âm hết lòng thành kính, nên nay xử trảm, cho đặng luân hồi, thay hồn đổi xác, nhập vô thây ăn mày là họ Gia y theo lời nguyện. Còn Kim Thục Cô đã đầu thai rồi làm con mọi xóm đồng. Ngày kia người đi xin cơm tại nhà chủ nó cho nó đánh chết ngươi mà thường mạng thắt cổ hồi đó. Còn họ Gia (coi án trước) nhập vào xác họ Lâm đặng làm cử nhân, sống hưởng phước tới bảy mươi tuổi”.

Án thứ 27: Phán quan xướng danh rằng: “Tội hồn họ Hàng mười bốn tuổi”.

Phán rằng: “Thằng nhỏ này, làm những tội chi?”.

Phán quan tâu: “Thằng này tuy còn nhỏ, mà chửi cha mắng mẹ hoài hoài. Tội hỗn ấy là tại cha mẹ nó cưng quá, nên nó quen nết hỗn hào, mang tội bất hiếu thấu trời. Khi nó đi học, đạp giấy chữ tính tới 37.500 chữ có dư. Thường khi nó ăn cơm đem đổ chỗ nhơ uế nữa”.

Phán: “Con nít không biết gì, ấy tại cha mẹ nó hư, thương là hại nó. Đã phạm luật trời, không lẽ dung đặng. Quỷ dạ xoa giải nó qua thành lửa mà đốt, không đặng đầu thai”.

Án thứ 28: Phán quan đọc án kế: “Họ Châu ở huyện Tiêu Lương, làm hàng trâu bò. Họ Thẩm ở huyện Thạch Thủ làm hàng chó. Họ Dương ở huyện Gia Ngư, làm hàng heo”.

Phán: “Ba tên làm hàng này, đáng quăng vào Đao sơn địa ngục”.

Họ Dương khóc mà tâu rằng: “Tôi có ăn chay ba năm theo kinh Huyết Bồn. Vả lại làm hàng heo, nhẹ tội hơn hàng trâu bò và hàng chó. Xin vương gia xét lẽ tôi nhờ”.

Phán: “Ngươi ăn chay theo kinh Huyết Bồn mà cầu cho ai?” T

âu: “Tôi cầu cho mẹ tiêu tội”. Phán: “Tuy theo kinh ấy là phi lý, huyễn hoặc, mà lòng có hiếu đáng khen. Song ngươi có hiếu với mẹ, sao không bắt chước lòng nhân của Trời ưa sống, mà làm hàng heo?”

Tâu: “Xin vương gia xét lại, bởi cha tôi bảo nên phải làm. Vả lại heo là thú người hoạn dưỡng mà ăn thịt không công lao với đời. Huống chi làm hàng heo chẳng ít, ăn thịt heo lại nhiều, xin vương gia rộng lượng”.

Phán: “Ngươi ăn chay theo kinh Huyết Bồn mà có tụng chăng?”

Tâu: “Có tụng”.

Phán: “Người sau bày đặt kinh Huyết Bồn, chớ không phải của Tiên Phật đặt, phải chi ngươi tụng Kim Cang, chẳng những hồn mẹ ngươi tiêu tội, vong hồn ba đời cũng được nhờ. Ngươi có hiếu tụng kinh, trẫm trừ tội làm hàng heo, cho qua Đông Nhạc, đầu thai làm con trai mần ăn. Còn hàng trâu bò và hàng chó lại đây. Trâu bò cày ruộng mới có lúa cho đời, chó giữ nhà mới còn đồ cho chủ. Chúng nó đều có công với đời, ngươi giết vật có công, không thể tha tội. Phán quan tra thử chúng nó giết bao nhiêu chó, bao nhiêu trâu bò cày ruộng?”

Phán quan tra bộ rồi tâu: “Họ Châu làm hàng 72 con trâu. Họ Thẩm làm hàng hết 187 con chó”. Phán: “Hàng trâu đầu thai làm trâu 72 kiếp, hàng chó đầu thai làm chó 187 kiếp, thường mạng cho đủ số, rồi giam vào ngục ngạ quỷ (ma đói) không đặng đầu thai”.

Án thứ 29: Phán quan đọc án kế: “Họ Vưu ở huyện Thạch Thủ, mới học làm thầy địa lý. Họ Hà ở huyện Võ Lăng làm thầy coi số và coi tướng”.

Phán: “Thầy địa lý mập mờ chỉ xấu là tốt, tốt gọi xấu, làm sái cách địa lý. Còn coi số coi tướng, nếu coi không thấu, cũng đoán họa phước không nhằm mà khoe thiên văn. Coi số coi tướng có sái cũng không đến đỗi hại người mà phải mắc tội nơi trời. Còn thầy địa lý lôi thôi tuy không mắc tội nơi trời mà làm thiệt hại cho người, là dời đổi tốn hao, lại làm sái động địa cho người mắc họa, hoặc hư nhà hại mạng, tuyệt tự, mới là tội lớn, chớ gạt người mà ăn tiền là tội nhỏ. Như vậy phải tính nó mà làm hại bao nhiêu nhà, thì bắt nó đầu thai làm súc vật mà bồi thường cho đủ số, rồi sẽ cầm hoài nơi ngục A Tỳ. Còn thầy coi số coi tướng, quen thói nói lừa, gạt chúng mà ăn tiền, sau lưng người lại giận cho ít tiền mà mắng lén. Chẳng hề dạy ai làm lành cho khỏi họa mà đặng phước. Phạt nó đầu thai làm thằng câm mà đi ăn mày tới ba mươi tuổi chịu lạnh và chết đói. Rồi sẽ nghị lại”.

Án thứ 30: Phán quan đọc án kế: “Bảy tên học trò phạm tội, tên thứ nhất họ Văn ở huyện Bành Trạch….”.

Phán rằng: “Bảy tên phạm đồng lên đây. Trẫm coi các ngươi đều là ăn học hồi nhỏ, lo thi đậu mà hưởng sang giàu, song có hiểu chút đỉnh đạo lý thánh hiền chăng?”

Các trò tâu: “Cha mẹ với anh tôi dạy chúng tôi hồi bé, lo học mà đi thi, trông thi đỗ cho vinh hiển, ở nhà tốt, sắm đất ruộng cho nhiều. Thầy chúng tôi cũng dạy cách ấy mà thôi, nên chúng tôi không thông đạo lý thánh hiền”.

Phán: “Trẫm nghĩ các ngươi đều có căn trước, thiệt là rất may. Thứ nhất đặng may làm trai. Thứ nhì may không tàn tật. Thứ ba may đặng tánh thông minh. Thứ tư may đặng khóa đậu vào trường chánh. Đặng bốn điều may ấy mà quên căn tu kiếp trước. Sao chẳng nghĩ đã đứng vào nghề sĩ, là hơn nghề nông, nghề công, nghề thương. Bởi nghề nông rán sức làm ruộng rẫy, thức khuya dậy sớm cực khổ, tay chân chẳng rảnh, ăn uống rồi, còn dư bao nhiêu thì bán cho người ăn, ai ăn hột cơm của nhà nông, đều là nhờ nông phu đổ mồ hôi xót con mắt, mới có của ấy. Còn nghề công làm ra các đồ khí dụng mà bán cho người, thiên hạ đều nhờ cả. Còn nghề thương xuống biển lên nguồn, chở chuyên hàng hóa, mà bán cho đời dùng, khỏi thiếu. Như vậy ba nghề ấy đều có công với người. Còn các ngươi chiếm nghề đứng đầu là nhất sĩ, có công chi với đời chăng? Các ngươi hiểu nghĩa lý chữ nhu là thế nào chăng? Bởi chữ nhân với chữ nhu bởi người phải cầu nhất sĩ mà nhờ. Song người cầu mà nhờ các ngươi sự gì có ích cho đời việc chi? Té ra các ngươi mỗi ngày làm hao của trời đất, xài tiền bạc hàng vải của triều đình. Biết các việc chơi bời, khảy đàn, đánh cờ, làm thơ, uống rượu. Ăn bận cho nhủn nha, dạo chơi cho khoái lạc. Lại còn ra vào chốn nha môn, lãnh phần lo lót, hăm dọa hàng xóm, ngay sửa ra vạy, vạy sửa ra ngay, làm mất lẽ công bình, các độc ác hại đời chẳng kể xiết! Nếu thời may thi đỗ làm quan đặng quyền cai trị thì thừa dịp ỷ thế cho đầy túi tham. Mượn cái oai triều đình, trổ cái tài chủ trại. Trên dối chúa, dưới hại dân. Chúa thánh ban ơn rộng, bị ăn gian nên lê thứ hết nhờ. Dân nghèo chịu thuế sưu, vì hà lạm nên triều đình thiếu dụng. Trăm mưu nghìn kế cho lợi nhà mập thây chớ không lo bày việc lợi dân, mà sử phong cho hết tệ. Thức khuya dậy sớm mà lo lập thế an dân, như cố ý câu lưu mà chờ hối lộ. Không cần lễ nghĩ, chẳng hề tu đức thanh liêm, mảng cậy oai quyền không thẹn làm điều tà vạy, sao chẳng nhớ: người xưa làm chức tú tài đã lo đời, cứ gánh vác việc thiên hạ. Còn các người đậu chức tú tài thì mong ăn của thiên hạ cho lợi mình! Còn sự này đáng ghét lắm: bình thường hay khoe mình là trung hiếu liêm sĩ, thấy ai làm một điều chẳng ngay thì mắng nhiếc quá sức! tới phiên mình thì quên trung hiếu liêm sĩ, bỏ trôi theo dòng nước, khi trước mắng người không ngay, nay ở vậy không cần ai mắng! Sao gọi là biết tu ố, mà xưng biết sĩ!”

Có một trò tâu rằng: “Tôi có công dạy học trò, cũng hữu ích cho thế”.

Phán: “Ngươi quả thực như đức Thánh Mạnh Tử lấy hiếu đễ trung tín mà dạy học trò sao? Chẳng qua là bậc dung sư, dạy cầm chừng mà hại đệ tử, cả ngày lo ăn thịt, nhậu rượu cho say; không công mà hưởng lộc, tội lỗi chẳng ít, còn kể công sao? Ngươi phải họ Ngu ở huyện Tương Dương chăng?”

Tâu: “Phải”

Phán: “Ngươi là thầy dậy học, sao còn dốt quá, lời không thông. Có kẻ hỏi ngươi rằng: Sát sinh có tội chăng? Ngươi nói: Không tội gì. Kinh Phật nói: Bất sanh bất diệt, nghĩa là không sát sanh thì nó chẳng đặng đầu thai kiếp khác! Ngươi mượn chữ kinh mà thích nghĩa bướng, mà xúi chúng sát sanh, thì mang thêm ba tội nặng. Một là mượn câu kinh mà thích nghĩa bướng. Bởi ngươi không hiểu nghĩa bất sanh là không đầu thai nữa, còn chữ bất diệt là không thác, nghĩa là nói tu có trí tuệ, có công quả lớn đức hạn lớn, về Tây phương đặng liên hoa hóa thân chẳng đầu thai, theo bậc vãng sanh tịnh độ, mà cũng không thác nữa. Phật gọi là chứng quả niết bàn. Chớ không phải nói nghĩa kỳ chướng dốt nát, giảng ngược như ngươi! Còn tội thứ nhì là xúi cho chúng sát sanh, những kẻ dốt ưa sát hại, nghe ngươi giảng vậy, nó càng sát sanh hơn nữa. Tội thứ ba là nói nghĩa ngược ngạo không rành. Nếu nói nghĩa ngươi thích đó, thì là bất diệt bất sanh mới phải. Sao câu kinh nói: Bất sanh bất diệt, mà ngươi dám thích nghĩa nghịch tự như vậy? Huống chi thuở nay, ngươi biếm nhẽ Thánh hiền Tiên Phật, kể tội không xiết! Học trò phạm các tội khác còn thương tình dung chế đặng. Trừ ra ba tội chê bai ba vị tổ tam giáo (Khổng Tử, Thái Thượng, Thích Ca) thì thiên luật không dung. Quỉ dạ xoa, dẫn họ Ngu đến làng Ác Khuyển, cho bầy chó dữ xé thây mà trị tội kiêu ngạo tam giáo. Còn một trò này hay đặt thơ huê nguyệt, ca huê tình, nói dâm cho trai ái động lòng sanh dâm loạn mới hư phong tục; tội ấy nặng nề, trước đánh tám chục roi sắt, rồi kéo lưỡi cắt môi, cầm hoài nơi ngục với họ Ngu. Còn năm người tùy theo tội nặng nhẹ, cho đi đầu thai. Ba người tội nặng cho đầu thai làm lừa, làm chó. Còn hai người tội nhẹ đầu thai tàn tật, câm, bại, đui, cùi. Đến lãnh tờ, giải qua vua Đông Nhạc, đi đầu thai lập tức”.

This entry was posted in THAM KHAO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s