TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH (II): VUA THÁI -SAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ BẢY

  • VUA THÁI -SAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ BẢYLàm lành hưởng phước :

    Phàm con có hiếu, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, kính yêu mười phần . Khi nuôi đau càng hầu hạ thức thối cần mẫn hơn nữa, đến nỗi cha mẹ bịnh liệt, ăn không được có khi đặt bàn cầu trời, mình lóc chút thịt cánh tay, mà nấu ra nước cho cha mẹ uống cầm hơi . Ấy là lời nói thí dụ tỏ lòng thương hết sức chạy lo như vậy . Có hiếu thì động lòng trời .

    Làm các điều dữ mắc tội :

    1. Ăn trộm đồ trong hòm, hoặc bày thuốc phá thai bị quăng lên núi lửa .
    2. Sang đoạt, hoặc dỗ dành gạt chúng, bị ngục trảm thủ (chặt tay).
    3. Lấy xương người mà làm thuốc, bị nấu dầu .
    Đền thái -san vương tại đáy biển tây-bắc, khám Nhiệt -não đại địa ngục giáp vòng 500 dậm do tuần, có 16 ngục nhỏ .
    1. Ngục chày nục tự thôn, đánh sặc máu bắt nuốt !
    2. Ngục thềm thối hỏa bức khanh, hầm lửa .
    3. Ngục liệt hung, bửa ngực .
    4. Ngục nha xa ngoạn phát, cột tóc trên nạng .
    5. Ngục khuyển giảo kinh cốt, chó cắn cẳng .
    6. Ngục đảnh thạch tồn thân đội đá .
    7. Ngục lả đảnh khai ngạch, đập óc xả trán .
    8. Ngục úc thống khốc cẩu đôn, chó cắn .
    9. Ngục lê bì trư tha (trư đà), lột da, heo cắn mà trì .
    10. Ngục đoạn hảo thượng hạ trác giảo, trên chim
    lắc nước mổ, dưới heo rừng xé .
    11. Ngục điếu đạp túc, treo cẳng .
    12. Ngục bạt thiệt xuyên tai, kéo lưỡi xỏ má .
    13. Ngục sưu trường, rút ruột .
    14. Ngục loa đạp hoa trước, la đạp, heo rừng cẳn .
    15. Ngục lạc thủ chỉ, đốt ngón tay .
    16. Ngục du phủ cổn phanh, nấu dấu .
    Nếu ai có uống hồng diên (kinh nguyệt lần vỏ da, thứ nhứt)
    tử hà xa nhau (nhau) ; hoặc uống rượu phí dụng thái quá ; mua đồ trong hòm người chết ; hoặc lấy xương cốt người mà làm thuốc : phân rẽ vợ chồng, thân thích người ; gả dâu làm thiếp , hoặc đợ ; để cho vợ trấn nước con gái : hoặc chửa hoang đẻ ra liền ủ ; bài bạc đánh môn đánh cặp chia tiền của, hoặc gian lận ; thầy không cần dạy để đệ -tử hư : không cần tội nặng nhẹ, cứ chửi tôi đánh tớ tới bị thương tích : hà hiếp xóm diềng : không kính người lớn hơn mình, dạy phải chẳng vâng lời : khua môi uốn lưỡi, xúi rầy đánh lộn ; các tội ấy tùy nhẹ nặng hành hình đủ 16 ngục . Hành đủ rồi, giải qua Bát điện tra tội khác nữa .
    Trong đời thiếu chi vị thuốc, nỡ nào giết vật sống mà làm thuốc, trị bịnh thiệt ở bất nhơn . Còn như uống hồng diên, nhau rún đồ dơ trong mình đàn bà, như ăn thịt người, thì cái miệng cũng như một thứ uế trược kia dẫu có làm lành tụng kinh niệm chú đã không linh, mà càng thêm tội, nên án ấy không dung . Nếu ai nghe khuyên nầy, mau mau chừa lỗi, nguyện cữ sát sanh, lại phóng sanh được một trăm vạn mạng mỗi ban mai súc miệng niệm Phật cho nhiều, đến khi mãn phần, Phật sai Tịnh nghiệt sứ giả đem đèn soi cho tiêu hơi uế mới đặng .
    Nếu ai lấy xương cốt kẻ chết thiêu, hoặc thây con nít chết mà làm thuốc, hoặc lấy sọ người bán mà làm vị thuốc có kẻ ác kiếm xương người tới cả gánh, chắc thì làm đồ khí dụng, mục thì tán ra bột pha đồ . Hầm các vật dụng thì dầu có công gì, trừ cũng không đặng, thà hành tội ấy công nọ để trừ tội khác, dư sẽ cho hưởng kiếp sau . Còn bây giờ hành các ngục rồi, rốt giải qua vua thứ mười đặng cắt tay khoét mắt, chặt tay chưn, hớt môi miệng mũi, đầu thai làm kẻ tật nguyền, thậm chí hai tật mà trừ tội ấy . Nếu ai còn sống biết tội, phải thề nguyền ăn năn, không dám phạm nữa, hoặc phải thí hòm mà đi liệm thí nhiều xác, sau chết đeo đính bài, trên đính bài ông Táo có chấm một điểm mực làm dấu, xuống đây mới khỏi hành hình .
    Có năm thất mùa đói lắm, tới nỗi kẻ sống đói quá ăn thịt thây ma . Nếu ai ngất ngư hấp hối còn chút hơi thở mà nỡ lòng cắt thịt nấu ăn, hoặc làm nhưn bánh bao, bánh in mà bán cho người ăn, ở lòng độc như vậy bị hành xây vần 16 cửa ngục nầy đủ 49 ngày, thì cho Thập -điện ghi vào sổ, rồi chạy tờ cho Nhứt điện đem tên vào bộ nữa, cho đầu thai lên làm súc vật chết đói, cho thấy đồ đổ trước mắt mà nuốt không vô, phải chịu đói tới chết .Tội này không phước nào trừ được, cũng không đặng đầu thai làm người mà trả quả . Còn kẻ ăn lầm, biết rồi mà còn ăn nữa, phạt đầu thai làm súc vật sưng họng đói lắm mà ăn không đặng, nhịn cho tới chết . Nếu biết lầm mà không ăn nữa, thì chế cho bố thí năm đói mà trừ (như thí lúa gạo tiền bạc cơm cháo hoặc nước gừng, nước trà), được như vậy đã tiêu hết tội trước, lại trả phước nhãn tiền và kiếp sau .
    Ba điều trên ấy là quan văn, quan võ với các phán quan điện nầy hội nghị hai điều, còn Địa -ngục thứ tư (chúa ngục) nghị một điều, là ba điều, trẫm cũng cho viết theo sau, dưng Thượng đế, nhờ ân chỉ phê cho và thăng thưởng các viên hội nghị .
    Lại truyền chỉ dụ : Thế gian làm điều dữ, chư thần đã nghị tội hành phạt rồi .
    Hỡi còn việc quân lính, việc công vụ, lễ nghị, chế riêng điều lệ nhỏ, các khoảng ấy điều y thao luật của nước nào chế, thì trị theo luật nước nấy . Nếu chúng nó chối mà đổ tội cho kẻ khác, tức thì phải tra minh mà trị tội y luật . Các cửa âm ti y chỉ dụ ‘.
    27 tháng ba nhằm ngày vía trẫm, ai ăn chay day mặt lạy về phía bắc, thề nguyền ăn năn chừa lỗi, làm lành in cuốn Ngọc -lịch cho đời coi mà cải ác, sau khỏi hành các ngục nầy ‘.

  • VUA BÌNH -ĐẲNG NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ TÁMLàm lành hưởng phước :

    Kẻ giàu có trai tăng bố thí cho thầy tu, được phước lộc .

    Làm các điều dữ mắc tội :

    1. Bất hiếu, cha mẹ sống không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc hồi cha mẹ còn sống làm cho cha mẹ ưu phiền bất bình, hoặc làm điều phạm phép, cho cha mẹ kinh hãi, đều bị xe cán .
    2. Ở quấy với người ơn của mình, hoặc chắp cây chiết chi, đem nhánh nầy chắp qua gốc cây kia, đều bị xắt ngang lưng .
    3. Nói tục -tĩu về việc phụ nữ, bị kéo lưỡi mà cắt .
    4. Khi người nghèo, dua bợ giàu sang bị mổ bụng móc tim .
    Ngục nầy có thành Uổng tử để giam hồn tự tận (giết mình).
    Bình Đẳng vương đền tại đáy biển chánh tây, khám lớn là Đại Nhiệt não đại địa ngục, rộng 500 dặm do tuần, có 16 ngục nhỏ :
    1. Ngục xa băng, xe cán .
    2. Ngục mộng hoa, chảo đậy ngột .
    3. Ngục tối quả, lóc thịt tận xương .
    4. Ngục lao khổng, bóp mũi, bóp họng .
    5. Ngục tiển thiệp, hớt chót lưỡi .
    6. Ngục thường thinh, nhà tiêu .
    7. Ngục đoạn chi, chặt tay chơn .
    8. Ngục tiền tạng, nấu đồ lòng .
    9. Ngục chích tủy, nướng mỡ xương .
    10. Ngục bát trường, móc ruột .
    11. Ngục phần tiêu, đốt trái thận .
    12. Ngục khai đường, mổ ức .
    13. Ngục hoạch hung, sả ngực .
    14. Ngục phá đảnh náo xỉ, bửa đầu xeo răng .
    15. Ngục phê cát, bằm xắt .
    16. Ngục cang xa, chĩa sắt đâm .
    Những con bất hiếu, cha mẹ còn không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc làm cho cha mẹ hay là cha mẹ chồng hết hồn, giựt mình, phiền hờn, rầu buồn, nếu không ăn năn chừa lỗi, ông Táo ghi vào sổ tội thứ nhứt tâu Thiên -tào cho bớt lộc bớt tuổi, cho tà quỉ làm điên khùng, thác rồi còn bị hành hình các ngục khác, giải đến cửa nầy ngưu đầu mã diện xách giò quăng vô khám lớn, rồi dẫn lại các ngục nhỏ hành hình cho đến kiếp, mới giải qua cửa thứ mười cho đầu thai làm súc vật . Nếu ai thấy Ngọc lịch mà tin, mỗi năm vía trẫm là ngày mồng một tháng tư, ăn chay thề nguyền chừa tội lỗi, sớm tối nguyện với ông Táo, xin ăn năn chừa lỗi, đến mãn phần ông Táo đề chữ Tuân trên trán, hoặc chữ Thuận, chữ Cải dầu hồn xuống từ Nhứt điện đến Thất điện có tội chi khác đều giảm phân nửa và khỏi phải giải qua điện nầy, đi luôn qua Cửa điện tra có đốt nhà, hoặc tính mưu thầm hay không . Rồi giải qua Thập điện cho đầu thai làm người tử tế .

    Thượng đế có chỉ dụ: “Nếu ai ăn năn chừa lỗi, in Ngọc lịch cho thiên hạ coi mà hồi tâm, thì sau thác xuống đi luôn từ Nhứt điện thẳng tới Bát điện khỏi hành các ngục . Tới cửa điện tra tội phước nếu không tội thì giao qua Thập điện cho đầu thai nhà giàu sang mà hưởng phước lâu dài .”

    Còn Huyết ô trì phía sau điện, mé bên tả . Sãi vãi tại thế gian giảng sái rằng : “Đàn bà sanh đẻ có tội, sau bị sa Huyết ô trì”. Ấy là nói sai lắm ! Sự đó tại trời sanh còn làm tội là nghĩa gì, dầu đàn bà đẻ mà thác, cũng không tội nhơ uế chi hết . Tội là vầy: Đẻ chưa đầy tháng mà xách nước, lội sông, vô bếp, giặt quần áo dơ, phơi hứng tam quang, các tội ấy về chủ nhà (người lớn trong nhà) chịu ba phần còn bảy phần đích thân nàng ấy chịu . Ao Huyết ô để phạt gái dâm dục sau bàn Phật, trước chỗ thờ thần, hoặc không cữ giao hiệp bốn ngày kị nhụt thần trong mỗi năm, là 14, rằm tháng năm, mồng ba tháng tám, mồng mười tháng mười, nội bốn ngày đêm ấy, mà ăn nằm thì tại dương thế đã mang bịnh, hoặc chết rắp, hồn xuống đây còn bị lăn lội dưới ao ấy lâu ngày . Hoặc sát sanh vấy máu trong bếp, hoặc bàn thờ, hoặc vấy máu vô kinh sách, hoặc đồ đựng cúng tế, cũng bị sa Huyết ô trì . Trừ ra có người thân nguyện cữ sát sanh lại phóng sanh cho vong hồn, lạy Phật tụng kinh cầu mới khỏi .

  • VUA ĐÔ THỊ NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ CHÍNLàm các điều lành được hưởng phước :

    1- Mùa đông thì nước gừng, mùa hè thì trà nước, có phước .
    2- Đưa đò thí, con cháu thi đỗ hiễn vinh.

    Làm các điều dữ mắc tội :

    1- Đi tới tiền làm chùa sửa chùa quan thếp Phật, mà ăn gian, hoặc rủ người đậu tiền khắc bản kinh, hoặc in kinh, ăn gian, hoặc bán mà thủ lợi, đều bị quăng trên núi cao .

    2- Bắt ếch, nhái, lươn cá, thuốc cá, bắt chim, ăn thịt trâu chó ngựa, hay sát sanh bắt rùa rắn, vô cớ mà hại vật, đều bị quạ xé thây ăn gan tim, rắn đục tai, niệng mũi .

    3- Phân vợ rẽ chồng người, nói đâm thọc cho ruột thịt xa nhạu Vẽ hình tục tĩu, làm thuốc tráng cho tà dậm . Hoặc đặt đồ huê tình, hoa-nguyệt cho sanh thói dâm . Hoặc đập chó . Các tội ấy đều bị chó vật chết, xé thây ăn thịt tim phổi .

    Đô thị vương đền tại đáy biển tây nam, khám lớn là A tì đại địa ngục, rông 8 trăm dặm do tuần đều bao lưới sắt, lập riêng 16 địa ngục nhỏ :

    1- Ngục xao cốt chước thân, đập xương đốt mình .
    2- Ngục sưn cân lôi cốt, rút gân nghiền xương .
    3- Ngục nha thực tâm can, quạ ăn tim gan.
    4- Ngục cẩu thực trường phế, chó ăn ruột phổi .
    5- Ngục thân tiện nhiệt du, mình, tưới dầu sôi .
    6- Ngục não cô bạt thiệt, bạt xỉ, nỏ đầu, kéo lưỡi, nhổ răng.
    7- Ngục thủ não vị điền, con nhím khoét sọ ăn óc .
    8- Ngục chưng đầu, quái não, nấu dầu, nạo óc .
    9- Ngục dương súc thành hải, dê cụng bấu .
    10- Ngục mộc hiệp đảnh, ta nỏ nát sọ .
    11- Ngục mạ tâm, móc tim mà xay.
    12- Ngục phị thang tâm thân, trấn nước sôi.
    13- Ngục huỳnh phong, ong vò vẽ đánh .
    14- Ngục nghị chú ngao thầm, kiến đục tóp (thắng mỡ ra tóp cho kiến ăn.)
    15- Ngục yết câu, bồ cạp chích .
    16- Ngục tử xích độc xà toàn khổng, rắn đỏ độc chun cửu khiếu .
    Phàm vua thế gian chế luật hình phạt, như tội nặng lắm xử lăng trì (chém rồi xả tư ), xử trảm (chém), xử giảo (thắt họng), hồn xuống chịu các ngục trước hành rồi, giải đến điện nầy, hoặc kẻ đốt nhà, nuôi xâu ngải, thuốc độc, phá thai, hút hơi rún cho bổ, nút tinh trai, hoặc vẽ hình tục tỉu, đặt thơ truyện ca huê nguyệt (thơ ân tình ) hay là bài thuốc mê, thuốc phá thai . Ai có phạm đều, thấy Ngọc -lịch thì ăn năn, thề chừa lỗi, không dám phạm nữa, nếu dâm thơ thì xé não, in rồi thì hủy bản, đốt sách, không truyền phương thuốc tà vạy nữa (thuốc tráng) thì sau xuống đây tha hành các ngục, giao qua Thập điện cho đầu thai làm người . Nếu nghe Ngọc – lịch mà còn làm các tội ấy, thì sau hành từ Nhị điện cho tới đây, đây trước hành bào lạc (xiềng tay chân vô ống cột đồng đốt đỏ, đẩy lên cháy thành than), huờn hồn lại giam vào ngục A tì mà hành theo 16 ngục nhỏ, rồi huờn hồn nữa, đâm gươm vô họng thấu tim phổi, giam hoài đợi các nhà bị hại trên thế gian khá lại, kẻ chết đầu thai hết, hoặc não bổn dâm thơ hết lưu truyền nữa, hoặc phương thuốc độc hết truyền, hoặc kiểu hình tục tĩu tuyệt hết, thì hồn phạm mới khỏi giam đặng đi đầu thai .
    Nếu ai phạm các tội ấy, đến ngày vía trẩm là mồng tám tháng tư, ăn chay, day mặt về hướng bắc, vái nguyện chùa lỗi, mua thâu dâm thơ mà đốt, hoặc in Ngọc -lịch cho người, hết sức khuyên đời cải ác tùng thiện, đến mãn phần, ông Táo đề hai chữ ‘ Phụng hành trên trán, thì từ Nhị điện đến đây, tra công mà trừ các tội khác . (Nếu kẻ giàu sang có quyền thế cho bắt kẻ hung hoang hay đốt nhà chúng, hoặc cấm dâm thơ, hủy bản đốt sách dán yết thị cấm các việc hại đời ấy, thì cho con cháu nối đời thi đỗ làm quan . Nếu kẻ nghèo, dốt, phụ in Ngọc lịch khuyên đời sau đầu thai hưởng phước .
    Vua Phong đô đại đế phán rằng :’ Tay Bát điện có thành Uổng tử, ở phía hữu điện nầy (vì 2 đền gần nhau). Thế tục nói sái rằng :’ Ai bị thác oan, thì hồn bị cầm thành Uổng tử ‘. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt ! Sao không xét cho đủ lý , người đã thác oan, cầm ngục nghĩa là gì ? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan trước cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai Còn thành nẩyđể giam những kẻ vô cớ giận lẩy mà giết mình, trầm mình thắt họng, uống thuốc độc vân vân, giam đỡ đây đợi hành tội chưa đặng đầu thai chớ không phải các hồn bị người giết Uổng -tử . Nếu kẻ liều mình vì sự trung hiếu tiết nghĩa, hoặc quân lính vì nước mà tử trận, các bực ấy kẻ đáng thành thần thì hiển thánh, kẻ còn tội lỗi, không đặng thành thần, thì đã cho nguyên hình mà đi đầu thai, có đâu giam cầm thành nầy mà chịu bó buộc thảm khổ hay sao ?

  • VUA CHUYỂN -LUÂN NGỰ ĐIỆN THỨ MƯỜILàm các điều lành được phước :

    1. Nhà giàu sang thí kinh lành, hoặc thí Ngọc -lịch phước lớn .
    2. Tụng kinh, tụng cảm -ứng tu hành niệm Phật, giàu sang sống lâu .

    Làm các điều dữ mắc tội :

    1. Hãm hiếp, dụ trẻ thơ mà ăn của, đều bị xay ra bột
    2. Không kỉnh giấy chữ, rủ ăn trâu, chó, phát làm hành khất
    3. Không kính người lớn, dạy khuyên điều phải mà chẳng vưng lời, hoặc thầy bảo học trò trọng giấy chữ, đều bị đá đè .
    4. Không phải cúng ông bà, nuôi cha mẹ mà sát sanh . Hoặc mưu kế lường gạt ăn gian . Bày kiện thưa báo đời . Hoặc nghề võ đánh độc cho người chết . Các tội ấy đi ngang cầu Nại -hà bị té xuống sông cho rắn mãn xà cua đinh ăn thịt .
    Chuyển -Luận -Vương đền tại đáy biển đông, ngay rún trái đất, có làm cầu bằng vàng, cầu bằng bạc, cầu ngọc, cầu bằng đá, cầu cây (cầu ván) và cầu Nại -hà, cộng sáu cái cầu .Các điện giải hồn đến, xét tội phước cho đầu thai các phương thế gian, định giàu sang hèn khó, sống lâu thác yểu, đều ghi sở rõ ràng mỗi tháng chạy tờ về Nhất điện ghi sổ rồi nạp cho vua Phong đô đại đế .
    Luật Âm phủ, phàm tứ sanh là loài đẻ con, loài đẻ trứng, loài dưới nước, loài biến hoá lộn kiếp, những loài không chân cẳng, hoặc hai giò, 4 chân, nhiều cẳng, các vật ấy chết rồi hoá ra con tích (mà chết một kiếp nữa) xoay vần như cối xay, hoặc số một năm nửa năm, hoặc sớm mai sanh chiều chết, đổi dời biến hoá mạt kiếp, không định số, là loài phải bị giết cho hết kiếp, cho đầu thai các nơi mà trả quả . Mãn năm cũng phải trình sổ ấy cho vua Phong đô đại đế xem .
    Phàm kẻ học nho có đọc kinh Diệc, các sãi, mấy thầy tu có tụng kinh niệm chú, mà phạm tội nhiều quá, tuỳ bắt hồn đến các điện, cũng chưa hành đặng, phải giải đến đền trẫm vẽ hình và biên tên vào sổ Đoạ lạc danh sách . Rồi giao cho Mạnh bà ở đài Ứ Vong, đổ thuốc mê, cho đầu thai chết trong bụng, hoặc sanh ra một đôi ngày mà chết hoặc hơn
    trăm ngày mà chết, hoặc một hai năm rồi chết, đặng cho quên hết kinh chú, rồi Nhứt điện bắt hồn tra tội mà hành Nếu ai công quả bằng nhau, hoặc dư quá chút đỉnh, thì định cho đầu thai làm trai, làm gái, xấu tốt, khoẻ cực, giàu nghèo, đều giao Mạnh bà cho uống nước mê (lú) rồi mới đầu thai .
    Trẫm hằng kêu tên mà cho đầu thai làm người, nhiều kẻ phụ nữ khóc lạy rằng :’ Còn thù lớn chưa trả đặng, nên không muốn đầu thai, thà chịu làm ma đói (ngạ quỉ), Trẫm hỏi rỡ, thì chúng nó kể ra : hoặc con gái đồng trinh hoặc con tiết phụ, bị các trò tốt trai háo sắc, hoặc tham của các nàng ấy, lập kế dỗ dành, làm mặt nhơn nghĩa, nói tiếng ân hậu, mà tư tình cho được ; kẻ nói dối chưa vợ, thề sẽ cậy mai đến cưới, hoặc gạt tớ gái, hứa sẽ lập làm thiếp mà lấy chơi phá trinh rồi bỏ, hoặc hứa nuôi mẹ già trọn đời, hoặc hứa nuôi con ghẻ . Các phụ nữ vì tin mà mắc, té ra hết của, thất tiết, mà chẳng đặng chồng ! Sao lại bán rao cho cha mẹ anh chị hành hà, xóm giềng đàm tiếu, tức mình hổ thẹn mà liều mình, hoặc tức tối thất tình phát bịnh mà chết ! Nay nghe đứa phụ tình đi thi khoa nầy chắc đậu, nên xin ở lại đợi tới khoa mà báo oán đòi mạng, ngặt nó chưa tới số, hoặc phước đức tổ phụ nó còn nhiều, xin cho lên phá nó hồn mê, thi chẳng đậu, hoặc cáo với Văn Xương đế quân phạt nó phải rớt (mới ra sự đổi tên có đứa khác đậu thế) đợi tới số sẽ xin lên vật hồn báo oán, các vụ ấy trẩm tra rõ oan ức, thì cho tờ nó tới Nhứt điện cáo . Nếu ai ăn chay ngày vía trẫm la 17 tháng tư, thề nguyền tin Ngọc lịch mà ở, và đem bài này mà giảng cho các trò nghe mà đặng giữ mình, thì người giảng ấy trọn đời khỏi thủy tai hoả hoạn, khỏi việc qua quan hình phạt .
    Còn sở luân hồi rộng bảy trăm dặm do tuần, trên dưới xung quanh đều có rào sắt và bao lưới phép, chia ra 81 chỗ, mỗi chỗ đều có nhà mát, các phán quan thơ lại, để bàn ghế biên chép . Ngoài rào sắt có 108.000 đường dương trường (nhỏ như ruột con dế) quanh co đi thông lên các nước .Chia ra sáu ngã (lục đạo) luân hồi, loài người có hai : 1. giàu sang, 2. khó hèn, trong ngoài đều sáng . Còn bốn ngã tứ sanh, là : Thai sanh, loài đẻ con (thú bốn cẳng). Noãn sanh, loài đẻ trứng có hai cánh . Thấp sanh, loài ở dưới nước, như cá, tôm cua ốc, rùa, trạnh, lươn, chạch, ếch nhái vân vân . Hoá sanh là loài tằm hóa nhộng, sâu lộn bướm, sùng hoá bồ xè, đuông hóa kiến dương, quăng hoá muỗi, kiến mốc mọc cánh, vân vân . Bốn loài ấy đường ở trong tối đen như sơn, ngó ra ngoài sáng như thủy tinh, như hai ngã loài người vậy . Các phán quan thơ lại kêu tên nhìn mặt rõ ràng cho luân hồi sáu ngã, một mảy không sai . Các phán quan thơ lại, đều là người hiếu đễ, cữ sát sanh, phóng sanh, tu hành, nên phong chức thần, mà coi sở luân hồi ấy . Coi năm năm công bình không sai thì đặng lên chức, nếu trể nải, hoặc lộng quyền, hoặc để tội trốn, thì bị phạt giáng chức, nhỏ thì bị đày .
    Phàm kẻ bất hiếu, hoặc sát sanh nhiều quá, bị các ngục hành rồi, giải đến đây, sai quỉ sứ lấy nhánh đào đập chết, hoá ra con tích, cho đội lốt tứ sanh đi đầu thai trả quả .
    Phàm cầm thú : cá, loài trùng (tứ sanh), đầu thai muôn ngàn kiếp đã mãn tội, thì loài hóa sanh được làm thấp sanh, thấp sanh trở lại noãn sanh, noãn sanh trở lại thai sanh, ba đời mà không giết hại mạng vật, thì được đầu thai làm người . Tại đây cũng làm sổ, gởi qua Nhứt điện phê, rồi cho uống thuốc mê nơi Mạnh bà, rồi đầu thai lên thế gian các nước .

  • LỜI VÃNG SANH CỦA PHẬTTrẫm đem vào đây cho đời tỉnh lại .
    Trên đời hay sát sanh, nên bị đao binh hại :
    Báo oán giết một thân, thiếu tiền thiêu tới trại .
    Mình đào hang ổ kia, nó phá vợ con lai .
    Oan trái trả xảy vần, lóng tai nghe Phật giải :
    Thịt, mua lừa khúc béo, cá, chắc lựa con tươi .
    Y phục kén phần nhứt, ruộng vườn chọn vẹn mười .
    Phóng sanh thì tiếc của, lảng Phí chẳng nhường người .

    Đến thác tay không nắm, một mình tội mấy mười !

  • MẠNH -BÀ NƯƠNG CON BÀ Ứ -VONGThần Mạnh Bà sanh đời tiền Hán, hồi nhỏ học sách nho
    lớn tụng kinh Phật . Không nhớ sự đã qua, chẳng mơ việc sẽ đến . Cứ lo khuyên người cữ sát sanh và ăn chay như mình . Không chồng tới 81 tuổi, tóc bạc mà mặt còn tơ . Bởi họ Mạnh nên kêu là Mạnh -Bà (bà họ Mạnh). Sau bà lên núi tu tới thành . Qua đời hậu Hán nhiều người biết kiếp trước, nhớ mạy đi nhìn bà con xưa, lại trí hóa nhiều, nói lậu sự Âm -phủ . Bởi cớ ấy, Thượng -đế phong Mạng -Bà lên chức Ứ -vong nương nương, là bà thần cho uống nước mê (tục kêu cháo lú), ở đài Ứ -vong nơi âm -phủ, trước đền Thập -điện ; đài ầy mới lập rộng lắm, cấp thơ lại quỷ sứ cho bà sai . Lấy vị thuốc của thế tục, chế ra như rượu, có đủ mùi ngọt đắng cay chua mặn, cho các hồn sẽ đầu thai đều uống, cho lú quên các việc kiếp trước, lại cho mỗi hồn có vài ba phần tật, như nhớ cười lo giận sợ, nhểu nước miếng, đổ mồ hôi, sổ mũi, khóc, khạc nhổ . Người lương thiện, cho thêm thông minh, tỏ tai sáng mắt, mạnh khoẻ ; kẻ làm dữ cho tới tinh thần, trở ra bịnh yếu phạt lần, làm cho người biết cải ác tùng thiện .
    Đài Ứ -vong ở trước đền Thập -điện, ngoài sáu cái cầu, cao lớn như nhà khách trong chùa (phương trượng) xung quanh 108 căn, phía đông có đường rộng một thước bốn tấc . Trong các căn đều để bình chén mà đãi các hồn uống nước rồi đi đầu thai . Miễn có uống bao nhiêu cũng đặng . Hồn nào nghịch mạng không uống, quỉ sứ trói giò lại, thọc ống đồng vô miệng mà đổ nhiều nước mê, ực rồi mới mở trói đỡ ra ngoài đường, xô lên cầu tre nổi, dưới sông nước suối chảy đỏ lòm, ngó thấy bên mé có gành đỏ núi gie mé sông đề bốn hàng chữ phấn trắng, nét lớn lắm, bốn hàng chữ như vầy :

Vì nhơn dung dị tác nhơn nan,
Tài yếu vi nhơn khũng cánh nan !
Dục sanh phước địa vô nan xứ :
Khẩu dữ tâm đồng, khước bất nan .

Thích nôm :

Xưa dễ làm người, nay khó bì,
Mong làm người nữa khó nhiều khi,
Muốn sang phú quí không chi lạ :
Lòng miệng như nhau chẳng khó gì .

Các hồn coi rồi, hoặc đọc rồi, có hai con quỉ cao lớn ở mé biển nhảy ra tới mặt nước : một quỉ đội mão đẹn, bận áo gấm, tay cầm giấy viết,vai mang gươm trường lưng đeo còng xiềng, trơn cạp mắt tròn vo cười ngất, ấy là quỉ Huợt vô Thường ; còn quỉ kia mặt dơ chảy máu, mình bận áo cổ giữa trắng, tay xách bàn toán, vai vác túi gạo đeo đính bài trước ngực, châu mày nhăn mặt thở ra than dài, ấy là quỉ Sanh hữu Phận Hai quỉ xô các hồn nhào xuống khe nước đỏ mà đầu thai . Kẻ có tội nhiều mừng đặng đầu thai làm người . Kẻ có công chưa đủ siêu thăng, thì tức và khóc rằng . Tu chưa đúng bực nên phải luân hồi cõi trần nữa ! Các hồn như say như mê, nhập vào xác con nít trong bụng, hai chơn đạp cái nhao, chung ra khỏi mình mẹ . Lâu ngày tham mùi ngon, không thương mạng vật, xa cách tánh lành, phụ ơn trời phật rộng thương, chẳng lo thác hiền chết dữ, thân sau thể nào, thì cũng làm hồn ma mang thây nữa !
Bài nầy là thơ lại ở đài Ứng -vong, viết rõ dưng Thượng đế xin cho để sau Ngọc lịch cho đời hiểu (Nhậm tấu).
Vì Thập vương làm não rồi, giao cho các phán quan chép lại vẽ hình kỹ càng, có đề họ tên thuật tích, dưng cho Địa tạng vương xem lại ngày 30 tháng bảy . Qua mồng ba tháng tám Địa tạng với Phong đô Thập điện chư thần đồng dưng cho Thượng -đế phê chuẩn rồi, song chưa có ai xác phàm xuống Am -phủ mà trao Ngọc lịch đem về truyền lại thế giạn .
Qua cuối đời Tống Nhân – tôn (nước Liêu niên hiệu vua Thái Bình) nhằm năm Canh ngũ, ngày mồng chín tháng chín (trùng cửu trùng dương), Đạm Si đạo nhơn (Kinh Ngô là thầy tu nước Liêu,Hồ tăng) ở gần núi, ngày trùng cửu, lên đỉnh núi dạo chơi, xảy thấy một tấm bia đá, chạm 32 chữ cổ tự như vầy :

Vô vi đại đạo, thiên tri nhơn tình .
Vô vi yển minh, quỉ kiến nhơn hình .
Tâm ngôn ý ngữ, quỉ văn nhơn thinh .
Phạm cấm mãn dinh, địa thâu nhơn hồn .

Thích nôm :

Đạo cả thinh không trời biết lòng,
U minh thần quỉ thấy người ròng .
Nói thầm, suy nghĩ, thần nghe hiểu .
Tội nặng thâu hồn, đất bắt vong .

Xảy thấy phía trong thắp đèn vàng, trước cửa điện có treo tấm biển 4 chữ :’ Xuất sanh nhập tử ‘ (nghĩa là : đầu thai thì đi ra, thác rồi hồn trở về đó). Đạm Si đương coi, xảy thấy đồng tử áo xanh kéo vào đơn trì (sân sơn son đỏ) quì lạy, rồi thối lui đứng trước thềm . Xảy thấy Thập vương kéo vào, đọc lời chúc ngày vía Phong đô đại đế và dưng bổn Ngọc lịch . Phong đô đại đế xem rồi, truyền văn võ các phán quán, đòi các quỉ sứ ngưu đầu mã diện mang lông đội sừng đều đến chầu, đứng tám hướng .Truyền phán quan đọc bổn Ngọc -lịch một bận . Các quỉ sứ lạy tạ ơn tâu rằng :’ Nếu ngày sau chúng tôi được đầu thai, hễ thấy Ngọc lịch nầy thì thề nguyện y theo cho đặng siêu độ ‘. Xảy thấy hào quang chiếu sáng, các phán quan cai trị thành Uổng tử và ao Huyến Ô, đều đem bổn sổ đến dưng và tâu rằng : ‘ Từ năm Thượng đế phê chỉ, cho ban phát Ngoc -lịch đến nay, bởi chưa có dịp đem lên Dương gian, nên chúng tôi, tra kỹ những phạm dư trăm ngục, có nhiều hồn khi còn sống hay giảng nhơn quả trong chốn đông người, hoặc giữa chợ đông, hoặc ngả ba ngả bảy, có người nghe tội phước mà hồi tâm . Chiếu theo luật Ngọc – lịch, cũng là khuyên người chừa lỗi, đáng ân xá tội nhỏ, cộng 50.480 hồn khuyến thiện, giảng quả báo . Nên thập vương hội nghị ân xá bọn ấy, định vào sổ đầu thai, tùy theo tội ít tội nhiều cho vào đường phú quí nhỏ, hoặc tầm thường . Kẻ tội nhiều cho làm người khó hèn, hoặc quan quả cô độc (quan là không vợ, goá vợ ; quả là goá chồng ; cô là mồ côi ; độc vô hậu không con, độc mộc đến già), đáng cho uống nước mê mà đầu thai, khỏi hành hình nữa, nên dưng sổ cho Đại đế xem ‘. Phong đô đại đế xem qua khen phải .
Xảy nghe báo rằng :’ Có Phật Quan -Âm Bồ -Tát giáng hạ ‘. Phong đô đại đế với Thập vương đồng ra chào mừng . Quan -Âm mới xuống thì hình phụ nữ, có Thiện tài theo hầu, Long -nữ cầm phướng . Đến khi Đại -đế Thập -vương ra chào mừng thì Quan -âm hoá ra hình ông Tiêu Diện đại sĩ (mặt xanh lưỡi đỏ), mình cao mười sáu thước mộc, truyền chỉ rằng : Ta phụng chỉ Thượng -đế, y lời tâu của Địa Tạng với Thập vương chư thần, xin ban Ngọc – lịch năm đó, cho thế gian ăn năn, nguyện tu chuộc tội, khỏi hành địa ngục : nay cho hồn phạm đầu thai, trẫm rất vui lòng . Lại nghe vời đặng Đam Si mà trao Ngọc lịch, về dạy thế gian cải ác tùng thiện . Trẫm ao ước có người tin Ngọc lịch, truyền giảng mà khuyên đời, chừa lỗi làm lành như mình, được đông người sửa lòng như vậy, thì núi đạo ao huyết cũng bỏ không, các địa ngục càng ngày càng trống, thì người khuyến thiện thành chức : Trí huệ dẫn thiện diễn kiếp Phật ‘ (vì Phật Trí huệ đem lành khỏi tội).
Đại đế Thập vương với các thần thành hoàng (thần trong đình) đồng chắp tay nói theo rằng :’ Vị khuyến thiện đáng thành chức Phật ấy ‘.

  • Quan âm nói :’ Nếu người tu ở thế thấy Ngọc lịch mà diễn dịch ra cho người dốt đàn bà con nít dễ hiểu, người ấy thành công đức nhơn thứ pháp thắng Phật ‘, (Phật công đức nhơn xét tài năng).
    Các vị ấy cũng chắp tay nói theo rằng :’ Đáng thành Phật ‘.
    Quan âm nói :’ Nếu ai thấy Ngọc lịch đi đứng nằm ngồi cũng cám mến ơn trời, rèn lòng thanh tịnh, khuyên giảng độ người ăn năn làm lành đặng năm điều thiện, sẽ được làm bạt tiến cho vong hồn tiên nhơn thân quyến . Lòng công bình muốn cho người đặng phước như mình, quyết khuyên dạy nhiều người tu hành, làm bạt tiến cho phạm hồn được đầu thai, địa ngục phải trống, thì người ấy thành : Cứu khổ tiêu huệ Phật ‘. (Phật Cứu khổ nạn, ơn khắp nơi).
    Các vị hết thảy đều chắp tay nói theo rằng :’ Đáng thành
    Phật ‘.
    Khi ấy Phong đô đại đế phán rằng :’ Bởi Địa tạng vương muốn siêu độ các phạm hồn nên truyền xét hồn nào hồi ở thế có biết ăn năn chừa lỗi, thì ân xá khỏi hành các ngục . Chư thần đã vưng chỉ, Ngài lại truyền Thập vương hội làm Ngọc lịch, dưng xin phê nơi Thượng đế . Nhờ ơn Thượng đế phê cho và có chỉ dụ sửa các khoản … rồi đây Trẫm sẽ dạy . Bởi bấy lâu chưa gặp ai đức hạnh, nhục thân đến cõi U-minh, mà trao Ngọc lịch, đem về Dương gian khuyến thế . Nay Đạm -Si đến dưới thềm, xứng đáng truyền kinh Ngọc lịch . Như vậy nay đã có người rồi các phán quan thơ lại đem cuốn Ngọc lịch, viết thêm lời Quan âm phụng chỉ mới truyền, với chư thần truyền dạy, biên thêm đủ điều và bảo Đam -Si ghi sự tích mình gặp truyền Ngọc lịch vân vân, cho đời hiểu cội rễ . Còn khi trước có chiếu Thượng đế chỉ dụ sửa các khoản :
    1. Các văn biểu tâu xin phê chuẩn, đều bỏ đừng biên vì rộn ràng e đời khó hiểu .
    2. Các vị thần với Thập vương đề tên họ thiệt, và thuật lý lịch tích mình vì làm sao mà thành, khoản ấy cũng bỏ, không cho đời biết sự tích làm chi, cứ đề nội tước (chức) như mỗ Bồ tát mỗ đế, mỗ điện mỗ vương, phán quan, thơ lại, để trống mà thôi, không cho đời biết tên họ . Ví dụ : Phong đô đại đế viết Diêm la vương viết . Đề chữ viết, bỏ họ tên, như phán quan viết vân vân, phải chấm câu vòng câu theo lời nói, cho đời dễ hiểu, e ít học khó phân câu . Cứ y chỉ như vậy, các phán quan viết lại, không nên làm sái . Còn mấy bài trẫm bảo thích nghĩa, Dương gian nói sái nói lầm như Huyết ô trì . Uổng tử thành, thập bát tằng địa ngục vân vân, ngày giáp thìn tháng ba, năm nhâm ngũ, trẫm có dưng sớ, Thượng đế cho biên thêm vào Ngọc lịch . Thôi cứ vậy bôi sửa đi ‘.
    Khi ấy Thập vương cầm viết, điện nào sửa theo điện nấy, rồi đưa cho phán quan thơ ký chép tinh lại . Khi ấy Đạm Si quỳ dựa bàn án mà xem các phán quan chép tinh lại . Xảy thấy Tiêu diện đại sĩ, hiện lại hình bà Quan -âm, cầm nhành dương liễu châm bình nước cam lồ rải xuống ba lần, rồi đằng vân bay lên cao hết thấy .
    Còn Thập vương cũng từ tạ lui về các điện . Phong đô đại đế bãi chầu, ngự vào trong .
    Lúc này các phán quan chép các lời Quan âm, sao Ngọc lịch, biên các lời chư thần và đọc cho tôi viết từ chữ :’ Thời thiên hạ thái bình canh ngũ niên … tới chữ chúc tất ‘, cộng 129 chữ . Rồi giao cho các vị viết thêm đủ điều, mới trao cho tôi mà dặn rằng :’ Người biết mặt với họ tên chư thần đã nhiều, nay trở về Dương gian, xin đừng nói lậu tên họ anh em chúng ta, e người đời biết có tổ tiên thân thích làm phán quan thơ lại dưới âm phủ, cơn nào nó có bịnh trọng, không lo làm phước cho mau mạnh, nó lại làm nhăng sát sanh cúng tế, đốt sớ điệp, cầu tổ tiên phò hộ cho thêm tội với chúng ta . Vả lại Thượng đế chỉ dụ cho Đại đế tại điện này với Thập vương chư thần, còn phải bôi hết ên họ lý lịch, quê hương sự tích thay ! Huống chi chúng ta là phán quan, thơ lại ? Bởi lòng người đời khó lường (khó độ) lắm, e khi mượn kế sanh sự nữa, thì người với chúng ta khó mà khỏi tội lỗi, Xin nhớ lời dặn đừng quên ?’ Tôi thích huyết thề nguyền, không dám nói lậu, lại ghi thêm các lời phán quan thơ lại dặn cho đời hiểu . Nếu tôi đặt điều mà giả mạo lời thần phật, trời đất thánh thần há dung sao ?
    Nội đêm trùng cữu ấy, Đạm Si đạo nhơn ghi lời bạt .

LỜI BẠT CỦA VẬT -MÊ ĐẠO -NHƠN

Tôi hiệu là Vật -Mê đạo nhơn (người tu, thầy tu tiên), tháng sáu, năm Mậu Thân, đi dạo qua tỉnh Tứ -xuyên, huyện Song -lưu, dọc đường gặp thầy tôi là Đạm Si tôn giả (Hồ tăng sãi nước Liêu . Tôi hỏi thăm thầy ở đâu ? Thầy tôi trả lời rằng : Ta ở đất Luân hồi sanh tử (sống thác xây vần) ải Nhơn quỉ khứ lai (người ma qua lại) nghĩa là đi lạc xuống Âm phủ mà về đây . Ta nói cho ngươi rõ : những kẻ ở thế gian được phép đến mấy ngày vía Thập Vương, ăn chay cầu nguyện chừa lỗi cũ, cải ác tùng thiện, cứ lạy hướng bắc (chỗ Ngọc đế), nguyện chừa lỗi cũ, không dám phạm nữa, làm lành mà chuộc tội, sau thác hồn khỏi hành hình nơi các địa ngục ; ấy là ân xá giảm tội . Tại thế gian nhiều án chạy khỏi chối được chớ xuống âm phủ không lọt một mảy lông, không than cũng chẳng phép chuộc tội . Quí tại còn sống ăn năn làm lành mà trừ tội mới đặng . Ngặt người đời chẳng xét, tại cái thiện thì làm người, tâm ác thời làm vật . Song kẻ phụ nữ trăm người còn biết ăn năn làm lành một hai người . Chớ đàn ông ngàn người, may có một người cải ác ! Có nhiều khi gần chết mà chưa biết ăn năn, thì phải chịu hành nơi địa ngục !
Nay nhờ ơn Địa tạng vương bồ tát truyền Thập vương dọn Ngọc lịch, xin chỉ Thượng đế phê cho thế gian, biết ngày ăn năn nguyện làm lành chuộc tội, lại truyền bổn Ngọc lịch cho ta . Ta khuyên đời phải biết : có phước mới đặng làm người, còn sống, rán ăn năn lành lành kẻo muộn . Ngươi có lòng khuyến thiện, nay ta trao Ngọc lịch cho ngươi sao ra truyền cho đời biết ‘. Ta quì lạy lãnh cuốn Ngọc lịch thầy ta lần lần bay lên cao . Nên ta sao ra cho đời, ai khắc in ra lưu truyền cho đời khỏi tội thì mình được phước . Khuyên ai phạm tội mau chừa, không phạm thì rán mà giữ . Đừng đợi thác rồi, mới muốn sống lại mà tu không đặng .

VẬT MÊ ĐẠO NHƠN (ghi ký)

Mười ngày vía Thập vương, đều lạy hướng bắc :

Nhứt điện Tần quảng vương mồng 1 tháng 2
Nhị điện Sở giang vương mồng 1 tháng 3.
Tam điện Tống đế vương mồng 8 tháng 2.
Tứ điện Ngũ -quan-vương 18 tháng 2.
Ngũ điện Diêm-la-vương mồng 8 tháng giêng .
Lục điện Biên-thanh-vương mồng 8 tháng 3.
Thất điện Thái -san-vương 27 tháng 3.
Bát điện Bình -Đẳng -vương mồng 1 tháng 4.
Cửu điện Đô-thị -vương mồng 8 tháng 4.
Thập điện Chuyển -luân-vương 17 tháng 4.
Và 14, rằm, 16 tháng 5, mồng 3 tháng 8, mồng 10 tháng 10
ăn chay ngủ riêng như trên . Vía 10 vua, nội 4 tháng 1, 2, 3, 4.

This entry was posted in THAM KHAO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s