TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH (III): THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ (cấm phòng)

THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ
(cấm phòng)

Các vía lớn, ăn chay, hoặc ngủ riêng, khỏi tội đặng phước . Tuy không ăn chay mà ngủ riêng cũng quí hơn . Tháng nào nhuần thì theo tháng trước : Tháng giêng : Mồng 1 vía Di Lặc, Thiên-Lập, ngày cúng trời . Mồng 3 vía Tôn chơn -nhơn, tổ thuốc và Hát chơn nhơn, ông tiên . Mồng 6 vía Định -chơn -Phật . Mồng 8 ngũ điện, Giang- đông thần . Mồng 9 vía Ngọc -hoàng thượng đế . 13 Lưu -mãnh tướng quân . Rằm vía Thượng -nguơn, Thiên -quan đại đế . Hựu -thành Tịnh -ứng chơn quân . Từ mồng 8 đến rằm, các vị ấy đi dẹp yêu quái, ai ăn chay, ngủ riêng, tụng kinh, có phước hơn mấy ngày thường thập bội, 19 Khưu -trường Xuân, ông tiên, cũng tổ thuốc ông đặt chuyện Tây-du . Tháng hai : Mồng 1 vía Nhị – điện, Thái dương, Câu-trận . Mồng 2 vía Thổ địa chánh, Tử -đông Văn -xương (Tụng Bổn nguyện, Bảo sanh). Mồng 4 Táo tướng quân . Mồng 6 Đông-Huê đế quân . Mồng 8, Trương đại -đế, Tam điện, Thích -Ca xuất gia (tụng Kim cang) 13 vía Các -chơn -quan, tổ thuốc, Rằm vía Thái, thượng lão -quân (tụng Cảm ứng). Tinh -trung Nhạc nguơn-soái -17 vía Đỗ -tướng -quân . 18 Tứ -điện . 19 Quan -âm (tụng Phổ -môn, Cứu -khổ). 21 vía Phổ -hiền bồ tát, Thủy -long Thánh -mẫu nương -nương . 25 vía Huyền -thiên thượng -đế thánh -phụ Minh chơn -đế .
Tháng ba : Mồng 1 vía Nhị điện . Mộng 3 vía Huyền thiên thượng đế (tụng kinh Báo ân cho cha mẹ ). Mồng 6 vía Thượng lão tướng công, Nhạng hương . Mồng 8 Lục điện, 13 Trung ương ngũ đạo . Rằm Hạo thiên, Huyền đàn, Lôi đình, 16 vía Chuẩn đề Sơn thần, 18 Hậu thổ nương nương, Trung nhạc . 20 vía Tử tôn nương nương (bà chúa thai sanh). 23 Thiên hậu nương nương 27 vía Thất điện, 28 vía Đông nhạc đại đế, Khương hiệt (ông thánh chế chữ).
Thánh tư : Mồng 1 Bát -điện . Mồng 4 Văn thù bồ tát . Mồng 8 Thích -ca Phật tổ, Cửu điện, Doãn -chơn -nhơn . 14 Lữ -tổ, Thuần dương, Rằm Thích -Ca thành (tụng Kim -cang). 17 vía Thập -điện … 18 Tử -vi đại -đế . 20 Nhãn -quang thánh -mẫu . 26 vía Chung -san tướng công . 28 vía Dược -vương cổ Phật .
Tháng năm : Mồng 1 Nam -cực đại -đế . Mồng 5 Địa -lạp (cúng đất). Ôn -ngươn-soái, Đặng -thiên quân . Mồng 7 vía Châu -thái -úy . Mồng 8 Nam phương ngũ -đạo 11 vía Đỗ -thành -hoàng (cai trị các thành -hoàng). 12 Bỉnh -linh -công . 13 vía Quan thái tử . 14 rằm, 16, ba ngày kị thần (cấm phòng). 17 Trương -thiên-sư . 20 Phùng chơn -nhơn . 29 Hứa oai hiển vương .
Tháng sáu : Mồng 4 chư Phật giáng . Mồng 6 Thôi -phủ -quân . Mồng 10 Lưu -hải -thềm đế quân . 13 Tỉnh -tuyền Long -vương . 19 Quan -âm thành đạo 23 vía Quan -đế, Vương linh-quan . Hỏa -thần . 24 Lôi -tổ . 26 Nhị -lang 27 Thiên -xu tả tướng (châu tử).
Tháng bảy : Mồng 7 Đạo -đức -lạp (cúng thần tiên), Ngưu -lang Chức -nữ . 12 Trường -chơn, Đàm chơn -nhơn . 13 Đại -thế chí bồ tát . Rằm Trung -nguơn, Địa quan đại đế . Linh -tế chơn quân . 18 Diêu -trì Tây -vương -mẫu nương nương . 19 Trị -niên thái -tuế (An giao). 21 Phổ -am tổ sư, Thượng nguơn đạo hoá . Đường chơn -quán . 22 Tăng phước tài thần, 23 Thiên -xu thượng -tướng chơn -quân (Gia -cát). 24 Long -thọ -vương bồ tát .30 Địa -tạng -vương bồ -tát (U -Minh giáo chủ). Tháng tám : Mồng 1 Thần -công Diệu -tế Hứa -chơn -quân . Mồng 3 vía Táo -quân (mồng 3 với 27 Bắc -đẩu giáng hạ phải cữ)
Mồng 5 Lôi -thinh đại -đế . Mồng 10 Bắc -nhạc đại -đế . 12 Tây -phương ngũ đạo Rằm thái -âm triều nguơn (tụng Thái -âm), 18 Tửu -tiên (Lý -thái -Bạch). 22 Nhiên Đăng Cổ Phật . 23 Phục -ma phó -tướng Trương -hiên -vương (ông Trương). 24 Táo -Mẫu (bà Táo .)
Tháng chín : Mồng 1 Nam đẩu giáng hạ (Từ mồng 1 đến mồng 9, 9 sao). Mùng 3 Ngũ ôn . Mùng chín Cữu thiên huyền nữ . Phong đô đại -đế . 16 Cơ thần . 17 Kim Long tự đại lương, Hồng ân chơn quân . 23 Tát chơn nhơn . 26 Ngũ hiển linh quan . 30 Dược Sư Phật .
Tháng mười : Mồng 1 Dân tuế lạp, Đồng hoàng . Châu chơn quân . Mồng 3 Tam mao ứng hoá chơn quân . Mồng 5 Đạt ma sư tổ . Mồng 6 Thiên tào chư tư, Ngũ nhạc Ngũ đế giáng hạ . Mồng 8 vía chư Phật hội niết bàn, phóng sanh có phước thập bội . (Nếu ngày mồng 8 tháng 10, làm một tội nặng bá bội ngày thường). Rằm Hạ nguơn Thủy quan đại đế, Đậu thần : Lưu sứ giả . 20 Trường hư Tịnh thiền sư . 27 Bắc cực Tử vi đại đế .
Tháng mười một : Mồng 4 Đại thánh chí thánh Văn tuyên vương (Khổng tử). Mồng 6 Tây nhạc đại đế . 11 Thái Ất Cứu khổ thiên tôn . 17 A di đà Phật (tụng Di đà). 19 Nhựt quang thiên tử, Cữu liên bồ tát . 23 Nam đẩu giáng hạ, Trương tiên, 26 Bắc phương ngũ đạo .
Tháng chạp : Mồng 1 Tiên phật giáng hạ (tụng kinh phước hơn nhiều). Mồng 8 Vương hầu lạp, Trương anh Đế, Thích Ca thành Phật (tụng Kim cang). 16 Nam nhạc đại -đế . 20 Lỗ ban . 21 Thiên du thượng đế . 24 Tư mạng Táo quân chầu trời (tối 23 cúng đưa trước). 29 Hoa nghiêm bồ tát . 30 Chư Phật giáng thế xét lành dữ .
Mỗi tháng mồng 8, 14 ; rằm, 23,29, 30 Bắc đẩu giáng hạ, ăn chay tụng kinh .
Tùng nhiên hòa thượng ở chùa Thiên thai đặt bài khuyên thế .
Người đời chẳng tin nhơn quả báo ứng, nên có kẻ số thọ mà yểu, số giàu mà nghèo, tướng làm quan mà thi rớt ! Sách Bửu giám nói :’ Lành thì trả lành, dữ thì trả dữ : nếu chưa trả, tại ngày chưa đến ‘. Lại có bài thơ rằng :
Trời sanh khó dối bởi không tây (tư -vị).
Mới tính thần hay nạp sổ nầy .
Lành dữ rốt rồi đều trả quả .
Chẳng qua đều kíp với đều chầy .
Kinh Nhơn quả nói ;’ Phỏng kiếp trước dữ lành, coi đời nầy hoạ phước . Độ kiếp sau hoạ phước, tại đời nầy dữ lành ‘. Lại nói rằng :’ Dầu làm dữ mấy kiếp, cũng trả cho mình ‘. Kinh Niết -bàn nói :’ Quả báo có ba cắch ! 10 Hiện báo, làm lành dữ đời nầy, trả phước họa cũng nội đời nầy ; 20 Sanh báo : kiếp trước làm, trả kiếp nầy, đời nầy làm, trả đời sau ; 30 Tốc báo : mới làm lành dữ, trả phước hoạ nhãn tiền, trước mắt tức thì ‘. Phải biết trời đất không tư vị ai, tại mình làm lành dữ nặng nhẹ, nên trả mau chậm khác nhau . Người đời khó hèn, điếc câm đi nhót, gãy tay, tật nguyền bịnh trời cho, đói lạnh, đều tại kiếp trước hưởng xài quá lẽ, làm dữ phạt nội đời ấy chưa hết kế tới số chết, nên đầu thai kiếp nầy phải phạt thêm cho đủ tội, Như vậy mà không tin nhơn quả báo ứng làm sao ?
Người đời những kẻ không tin địa ngục, đến gần chết hay thấy ma quỉ, hoặc nghe tiếng binh khí, xiềng tỏa mới tin có quỉ thần địa ngục, liền van vái cầu thần . Té ra đèn giữa gió, gần tắt, ăn năn muộn sao kịp, khó trốn quỉ Vô thường . Quí tại ăn năn cho sớm, tỉnh lại mà tu, gần chết mới sợ vô ích .
Đời Tùy vua Khai hoàng, có quan tự thừa Triệu văn Xương chết đi sống lại nói rằng :’ Hồn xuống âm phủ thấy Châu Võ đế bị xiềng ba lớp tại phòng, kêu Xương lại mà nhắn rằng :’ Khanh về tâu với Tùy hoàng đế rằng : các tội trẫm cãi lẽ xuôi hết, còn một tội hủy Phật nặng lắm, mau làm phước bố thí, tụng kinh mà cầu cho trẫm khỏi tội ,’ Xương ra ngoài thấy một người dưới hầm phẩn ló đầu lên, hỏi ai đó ? Người ấy đáp rằng :’ Ta là Bạch -Khởi, tướng mạnh đời Tần ‘.
Sách Danh thần ghi :’ Kinh Công có tên con Phương dữ lắm, xúi Kinh Công làm nhiều điều trái lẽ . Đến Phương thác, Kinh Công mơ màng thấy Phương mang gông đứng dựa cửa . Kinh Công sửa nhà làm ra kiểng chùa, bố thí tụng kinh cầu Phương khỏi tội ‘. Lấy sách nho đó làm chứng, đủ tin Ngọc lịch, thì khỏi khổ phần hồn, Ông Tư mã Ôn công nói :’ Trên có Thiên đường . Người quân tử thác rồi, lên Thiên đường, dưới có Địa ngục, tiểu nhân thác rồi hồn sa Địa ngục .’ Sao gọi không Thiên đường Địa ngục ?

  • Đoan sơn đại tiên là ông Vương chương, đặt kinh thế lục rằng :’ Thiệt quả có Địa ngục . Bởi người tính lành, thì thuộc dương sáng, nên khí thanh lên thiên đường . Còn lòng tính dữ, thuộc âm tối nên khí trược xuống Địa ngục . Diêm quân tra hỏi, hành tội mổ bụng rút ruột, đốt cháy nấu dầu là tại lòng chứa dữ ‘.
    Người đời không tin thác rồi đầu thai . Như kẻ không con, cưới vợ bé nhiều cũng vô ích, vì không thai nghén hoặc có nghén bị tử phúc trung, hoặc chết theo mẹ, không thì nuôi lớn chưa kịp có con mà chết yểu, thì cũng vô hậu, những kẻ ấy thiệt là vô phước lắm . Nếu vợ chồng có con sum hiệp đến già, tuy khó hèn cũng là có phước nhiều ít mới đặng vậy .
    Sách danh thần nói :’ Mẹ ông Phạm -tổ -Võ, lúc gần sanh ổng, chiêm bao thấy người cao lớn xưng mình là Đặng -Võ tướng quân đời Hán, thức dậy sanh con trai mới đặt tên Tổ -Võ . Đến lớn ở thuần lắm, nên đặt tự Thuần -Phu ‘.
    Còn sách Tự -Loại, sách Mông -Cầu, có ghi tích Dương Hộ sanh ra, mà nhớ chiếc vòng kiếp trước . Bảo Tịnh nhớ cái giếng kiếp trước . Con gái Hướng Tịnh chết non . rồi đầu thai lại nữa, nàng nói chuyện kiếp trước không sai . (Con ranh con lộn mà nuôi được ). Ngươi Văn Thẩm sống lại nhập vào xác khác . Những tích ấy đều tại sách Nho, sao không tin luân hồi đầu thai kiếp khác .
    Phàn người lành, đầu thai nhà giầu sang có đức mà hưởng phước . Công quả bằng nhau đầu thai nhà tầm thường . Công ít quả nhiều, đầu thai nhà rủi ro, hèn khó mà trả quả . Như trong Ngọc lịch nói :’ Thử lòng kẻ ấy, còn làm dữ nữa, không biết ăn năn mà làm lành, Thác Địa ngục làm con Tích, đầu thai làm thú vật, nếu về hoá sanh lộn mãi, hết trông làm người ‘.
    Bà Diệu Huệ chơn nhơn (bà thân ông Văn Xương) nói :’ Con người ở đời, sống thác không nhứt định, ở tạm rồi đi, như trăng tròn khuyết, như hoa nở tàn . Ngày nay mới sanh là hồn chết kiếp trước lộn lại . Nếu thân trước chưa thác, thì hồn ấy có lộn vào xác nầy mà sanh ra đâu . Nếu ngày nay đến chết mà biết mình tội nhiều, thì trông chi đầu thai tử tế .
    Người đời chẳng tin thác rồi đầu thai làm thú vật . Sách Nho biên sự đầu thai ấy rất nhiều, chẳng phải một tích . Sử Tùy thơ, Lý sĩ Khiêm nói :’ Ông Cổn là cha Địa Võ, hoá làm con cua đinh ba cẳng, gọi là con ba ba, Ngươi Đỗ Võ hóa làm đề Quyên là con quốc . (Nên chim quốc tên là Đỗ Võ Đỗ Quyên). Bao Quân hóa rồng . Ngưu Ai hóa cọp, Bành Sanh hóa heo rừng . Như Y hóa chó . Huỳnh Mẫu hóa vịt, như càng thay lớn lắm . Tuyên Võ hóa trạch (cua đinh, tục kêu là cá giải). Đặng Văn hóa trâu . Từ Bá hóa cá . Kim Hạ hóa quạ, Thơ Sanh hóa rắn ‘. Các điều đó biên nơi sách Nho, sao mà không tin ?
    Đức Thánh Khổng -tử nói :’ Sanh ra đến già phải thác, làm người chẳng sống đời, nếu theo dữ bỏ lành, sao khỏi làm loài khác ‘. Kinh Lăng Nghiêm nói :’ Người thác làm dê, dê thác làm người ‘. Phổ Am tổ sư đặt bài kệ rặng :’ Súc sanh bổn thị nhân lai tác, nhân xuất luân hồi cổ đáo câm, Bất yếu phi mao tinh đái giác, khuyến quân hưu sử súc sanh tâm ‘. Nghĩa là : người lộn súc sanh cũng tại tâm, xưa nay người vật chuyển luân thầm . Muốn không đội gạc mang lòng xấu, khuyên chớ làm theo dạ thú cầm .
    Ông Tịnh Trai học sĩ nói .’ Thông minh bất năng địch nghiệp, phú quý, khởi miễn luân hồi ‘. Nghĩa là : Khôn lanh khó chữa tội, phú quý cũng luân hồi .
    Ông Hồng Mai nói :’ Hay coi thọc huyết heo, làm thịt dê, sau gần chết la như tiếng heo dê kêu vậy, có khi chết rồi đầu thai làm chim, cho người mua mà thả . Nếu đàn bà hay coi sát sanh dê heo lắm, có khi đẻ ra đầu dê, hoặc mình rắn, hoặc trứng như trái cầu (đẻ bọc) ‘. Cứ theo lời ấy, người ta còn đẻ súc vật côn trùng, hoặc đẻ trứng, huống chi thác rồi đầu thai làm súc vật, mà gọi không lẽ . Bởi luân hồi mà trả nợ thường mạng, là nhơn quả xoay vần . Khuyên đời đừng gọi mắt chưa thấy nên chẳng tin, cứ làm dữ mãi (tin tại phải lý, lựa chờ mắt thấy, đợi mắt thấy đà chết rồi còn gì ! ).
    Xưa có kẻ hỏi thầy Trình -tử rằng :’ Phật nói chết rồi đi đầu thai nữa, sự ấy thấy thiệt chăng ? Thấy Trình -tử nói :’ Sử ấy nói có nói không cũng khó hiểu . Song xét lời đức thánh Khổng -tử dạy rằng :’ Vị tri sanh, yên trí tử ‘ (chưa biết sự mới sanh đâu biết sự thác rồi), do một câu ấy thì đủ hiểu rồi ‘. Coi Trình -tử và ông thánh đời Tống ; mà chưa dám gọi không luân hồi đầu thai . Còn xét lời nói đức thánh Khổng -tử, đâu biết việc thác, thì sự luân hồi đầu thai không phải huyễn .
    Ông Châu -liêm -Khuê tự Mậu -thức, là thầy hai ông Trình -tử, Trình -Hi, Trình -Hạo, ( Y Xuyên với Minh Đạo ). Khi ấy ông Châu -liêm -Khuê hỏi thầy Huỳnh -Long-Nam thiền -sư rằng :’ Chẳng hay đạo Phật có dạy sự nhiệm mầu riêng hơn đạo nho chăng ? ‘ Huỳnh -Long Nam thiền -sư nói :’ Thầy hãy xét các câu sách nhà nho của thầy như đức Khổng -tử nói :’ Triêu văn đạo, tịch tử khá hỉ ‘ Nghĩa là ‘Sớm mai nghe thấu mùi đạo, chiều thác cũng đành ‘. Xét đạo ấy nghĩa là chi ? Còn ông nhan -tử không đổi sự vui, là vui việc gì ? Xét ra lý hai câu ấy, lâu lâu mới biết hiệp cái nhiệm mầu của đạo Phật, chớ không chi lạ mà hỏi ‘.
    (Đạo là thông hiểu sự phải, chắc ý mà làm, chẳng hồ nghi chi hết, vì biết số mạng trời định, cứ phải mà làm, tố nào theo tố nấy, chẳng phải rán cượng cầu mà đặng, nên đức Khổng -tử nói :’ Nếu cầu đặng sự giàu, tuy ra sức mệt nhọc, làm việt hèn hạ như kẻ đánh xe, mà đặng giàu ta cũng rán chịu cực chịu nhục mà làm cho giàu . Nếu tại số trời định, có cượng cầu cũng vô ích, thì thà an phận mà theo tố, là chỗ ưa của ta ‘. Nên ông Nhan -tử thông mùi đạo, cứ giữ đức hạnh học hành sửa mình gọi là vui theo tố bần tiện, chớ không rầu buồn sự nghèo khó, nên sau ngày mãn phần làm chức Tu -văn -Lang tại Âm phủ cũng đồng liêu với thầy Tử -Hạ . Đức thánh Khổng -tử cũng nói :’ Thực sơ phạn, ẫm thủy, khúc hoăng nhi chẩm chi, lạc tại kỳ trung hỉ . Ăn cơm rau, uống nước lã, co tay làm gối nằm, ngài cũng vui vậy, là tại biết đạo, biết mạng, tố nào theo tố nấy .’ Quân tử vô nhập, nhi bất tự đắc ‘. Người quân tử không gặp cảnh nào mà chẳng vui, bởi vậy ngài mới thành thánh . Người đời không biết đạo, lòng tham vọng tưởng, cượng cầu cực khổ, không lợi lại bị hại, mau chết mà mắc tội nhiều, hại tới thân kiếp sau và để họa cho con cháu .
    Người đời xem Ngọc -lịch mà nửa tin nửa nghi, chưa dám đoán chắc là tại học chưa đủ lý ; té ra gặp phước mà bỏ qua . Nếu hiểu nhơn quả đời trước làm lành dữ, đời nay chịu phước họa . Đời nay làm lành dữ, thì kiếp sau chịu phước họa mà còn nghi chi nữa ? Nay nhờ ơn trời, nhậm lời Thập vương chư thần, cho truyền Ngọc lịch đủ bằng chứng khỏi nghi, cũng như tích Lâm -tự -Kỳ sống lại, ghi lại cuốn Hồi -dương nhơn -quả thì mau ăn năn làm phước chuộc tội nếu đợi gần chết ăn năn sao kịp ?
  • TÍCH TRUYỀN NGỌC LỊCH MÀ CỨU HỒN MẸTỉnh Tứ Xuyên, thân Dậu đường, ông Viện- cẩn- An mãn phần, để một trai lại, tên là Dức- Sơ mới bảy tuổi. Vợ Cẩn An là Thiệu- thị thương con ốm yếu, nghe lời họ bày phép bổ nguơn , mỗi ngày dùng gà mập, nấu lấy nước thịt gà làm canh cho con ăn cơm. Nên mua gà nhiều lắm, đào trùng dế, nuôi cho mập đặng nấu cho con ăn. Dức-Sơ 15 tuổi Thiệu- thị bịnh ghẻ đau nhức cùng mình, như dế
    cắn gà mổ, mà cũng còn nhắc đầy tớ gái, làm gà cho con ăn. Đức-Sơ hiểu ý liền
    cản cấm không cho làm gà nữa. Thiệu thị đau bảy năm, gần chết làm gà gáy , dế kêu, cào rách mình mà chết ! Đức-Sơ khóc kể vì mẹ thương mình, nên sát sanh mới bị quả báo, liền thề cữ sát sanh Cách một năm có nàng Ning-Cô là chị con nhà bác, gả cho Tiền bị đẻ mà chết. Hồn xuống Nhựt-điện, vua xem bộ phán rằng :’ Nàng nầy tội nhiều, đáng bị sản nạn, giao qua Nhị-điện hành hình ‘. Phán quan tâu rằng :’ Viện-ninh-Cô có khuyên cha mẹ chồng đừng đốt cây khô nhiều kiến, đã ba lần. Lại khuyên chồng khắc in van giới sát
    cho người 5000 tờ và phụ in kinh Quan-âm phóng sanh văn 3000 tờ. Táo quân tâu Thượng-đế cho sống thêm 30 năm nữa. Vua Nhứt-điện đứng dậy phán rằng :’ Lành thay !’ Liền sai kẻ áo xanh cầm phướng đưa hồn về. Ra tới cửa ngõ đỏ, có thắp đèn vàng, nghe tiếng kêu rằng :’ Ninh-Cô cứu ta với !’ Ninh-Cô ngỏ thấy thiếm là Thiệu-Thị đầu tóc chôm bôm, mình máu lội bộ, chạy theo khóc rằng :’ Cháu sống lại nói cho con ta hay, rằng ta bị khổ dưới âm-phủ bảo làm phước mà chuộc tội cho ta, nếu khỏi tội, ta về cho chiêm bao mách bảo trả lời. Xảy thấy quỷ tóc đỏ cầm chĩa đâm họng Thiệu thị mà dẫn đi, Ninh cô sống lại, thuật chuyện… Đức sơ hay, liền lạy Phật làm chay, tụng kinh tới 19 năm mà không thấy chiêm bao. Cưới vợ là Thi thị, cũng cữ sát sanh. Sau thấy kinh Ngọc Lịch, Đức Sơ nguyện sao tả cho người đặng chuộc tội mẹ. Mới tả được 120 bổn lẻ, cho mới được 108 cuốn. Nhằm niên hiệu vua Càn-long trào Thanh, là năm canh ngũ, đêm rằm tháng giêng, chiêm bao thấy Thiệu thị về vỗ lưng con mà khen rằng :’ Con thiệt có hiếu. mẹ ra khỏi ngục, nhờ phát Ngọc lịch 49 người hồi tâm, vua đà tha tội, lại cho về mách bảo con hay, hồn mẹ được về ở tại mã, giờ tý ngày 18 nầy, sẽ đi đầu thai hưởng phước. Còn con cũng đặng sống lâu nữa ‘.

    Đức Sơ hỏi :’ Cha tôi bây giờ ở đâu? ‘ Thiệu thị nói : ‘ Đầu thai đã lâu, lại chú giải kinh Nhơn quả với Thiệu thơ, nên thi đậu làm quan và mạnh khoẻ ‘. Đức Sơ hỏi :’ Ở tại xứ nào? ‘ Thiệu thị không nói, xơ Đức Sơ thức dậy. Đức Sơ thuật chuyện cho vợ nghe…Thi thị nói :’ Tại mình mơ tưởng sao tả Ngọc lịch nên chiêm bao thấy vậy ‘. Sáng Đức Sơ dọn đồ ăn bưng tế mã mẹ và đốt giấy áo, vàng bạc, vái rằng :’Nếu mẹ cho con thấy chiêm bao nữa, thì con mới tin chắc ‘. Đêm ấy, Đức Sơ thấy Thiệu-thị về điểm mặt Thi-thị mà mắng rằng :’ Mầy ghét chồng sao Ngọc-lịch nên mầy xé năm cuốn, thiếu chút nữa mà hại ta ! Lại nói cho chồng không tin điềm thiệt, mầy sẽ mắc họa bây giờ ‘. Đức-Sơ giựt mình dậy hỏi vợ, sao mình xé 5 cuốn Ngọc lịch. Thi thị nói: “Đừng có nói yêu nói ma, có ba điều không đáng tin lắm : 1. Cữ sát sanh, không cho đồ sống vô nhà, như sãi vãi một thứ; 2. Đêm nào ngày nấy, thầy sãi tụng kinh hơn hai mươi năm mà cũng còn mắc tội dưới âm phủ ! Giá gì sao mấy bổn kinh mà phước nhiều vậy? Còn tin là nghĩa gì? 3. Nói tôi xé 5 cuốn, sao mình không nghĩ? Mình viết rồi cất vô tủ khóa lại, tôi làm sao mở đặng mà xé, còn tin nỗi gì? Chẳng phải thiệt hồn mẹ về mách bảo đâu ! Ấy là mình vọng tưởng mà thấy bậy, e không bao lâu, sẽ điên cuồng mà chớ !” Đức Sơ nghe nói lưỡng lự, vì cũng phải lý dễ nghe. Đêm 17 qua ứng mộng bên nhà em
    Thi thị và ứng mộng nhà cháu là Ninh-Cô, rồi ứng mộng dâu con mà mắng rằng :’ Mồng sáu tháng bảy năm ngoái Châu-phụng-Cô là gái xóm nầy vào nhà ngồi chung với mầy mà thêu giày, mầy có lấy một cuốn Ngọc lịch để trong rổ may. Đêm sau mầy giận chồng mầy không cho Phụng-Cô vô nữa, nên
    mầy xé 5 bổn Ngọc lịch. Bữa sau em mầy là Thị-Phúc đến thăm, thấy kinh rách, năn nỉ xin về đóng lại dán lại viết vô mà cho người, Âm phủ đã ghi phước cho Thị-Phúc. May sao con ta để vô tủ mà khóa, phải không thì mầy cũng xé nữa ! Nay lại chối lức đặt chuyện ba điều không đáng tin, tội già làm nặng lắm. Táo thần với Thổ địa đã chịu cho tà quỉ vô nhà hành mầy chạy đâu
    cho khỏi họa !’ Nói rồi xô đổ bàn để đồ trang điểm một cái rầm ! Vợ chồng giựt mình thức dậy ! Đức -Sơ hỏi vợ tin không ! Thị-thị nói : Ai tin thì gọi có, ai không tin thì gọi không ‘. Xảy thấy một đống khói đen bay vô cửa phòng ! Thị thị rùng mình, ngó chồng mà nói rằng :’ Mình tả thêm ít cuốn nữa, thà tin là có, chớ gọi là không ‘. Đức Sơ biết vợ có xé kinh thiệt, nên mới nói như vậy. May mẹ đã đầu thai, nên tin chắc, thôi cậy sãi tụng kinh nữa, quyết lòng tả Ngọc lịch làm phước.
    Đêm ấy Thi-thị phát óng, lưng vai đau nhức như đánh như dần. Rước thầy thuốc coi mạch. Thầy thuốc nói :’ Ấy là âm độc làm ghẻ ác, phần thím có thai, nên không dùng thuốc nóng mà trị, thế phải chịu phép !’ Đức Sơ rầu lắm. Kế em vợ là Thị Phúc ghé. Ninh-Cô cũng đến thăm, đồng thuật chuyện chiêm bao, bảo Dức-Sơ van vái. Đức Sơ vào bếp, vái ông Táo, nguyện tả một trăm bổn Ngọc lịch mà cầu cho vợ mạnh. Thi thị đương nóng mê, vùng dậy quì dưới đất, lạy khan mà nói rằng :’ Từ rày sắp lên, tôi tin Ngọc lịch, tình nguyện bán hết đồ nữ trang mướn tả Ngọc lịch, cho người mà chuộc tội ‘. Xảy thấy ông đội mão thất tinh, bận áo đen, đuổi đống khói đen dưới giường lăn ra bay ra mất. Thi-thị bớt nóng hết sưng lưng vai (chứng phát-bối). Bữa sau sanh con trai, mẹ con mạnh khoẻ. Nội trong hai tháng, vợ chồng mướn nhiều người tả đủ một trăm bổn Ngọc-lịch cho người. Bởi vợ chồng cám ơn thần, nên biên sự tích vào đây mà khuyên đời, không dám giấu sự lỗi.

  • BỞI CHÊ NGỌC LỊCH BỊ PHẠT NHÃN TIỀNPhan ngưỡng Chí là học nho, không tin Ngoc lịch, viết bậy vô mà kiêu ngạo. Phê tại câu :’ Đâu thấy hồn ma mang gông ‘. Đề ba chữ son rằng :’ Thị chi chỉ ‘. (rất phải lắm). Bởi mực mấy bài từ Nhứt điện tới thắt điện. Tại Ngũ điện lấy son gạt tréo. Trên câu nói :’ Uống rượu lảng phí, ‘ nó đề hai chữ son lởn. ‘ Khả tiếu ‘ (Tức cười quá !). Chỗ Thập điện nói câu :’ Đàn bà con gái bị học trò gật nên thuận theo thất tiết… ‘ Nó đề II chữ mực : ‘ Phụ nữ tự kỉ tầm tử, dữ nam tử hà thiệp?’ (Tại phụ nữ liều mình, đàn ông có can cớ gì ?’ Chỗ nói đầu thai, nó đề hai chữ son :’ Loạn họa !’ (nói bậy !) Chỗ Mạnh bà, mấy câu ấy, nó chấm mực vài hàng. Trên bốn chữ ‘ Khổ căn nan đoạn ‘ ( còn đầu thai cõi trần cực khổ ) nó khuyên son trết ! Tới câu :’ Làm hồn ma mang thây nữa,’ nó khuyên son 9 khuyên. Từ ấy sắp sau, chỗ bôi chỗ gạt tréo, cho tới chỗ câu : ‘ Hào quang chiếu sáng, Quan âm giáng hạ,’ nó vùng phát điên. Nửa đêm nó mở cửa chạy ra phố chợ , hai tay chống đất, bò càng, lật phao tay đổ máu, trầy đầu gối lả giò, bò một hồi làm như bị trói cẳng, mọp đó la lớn rằng: ‘ Bớ con ơi ! ! Mau đem cuốn kinh Ngọc lịch ra đây, đặng đưa cho lối xóm, đem cúng trong chùa Tây Nhạc đại đế ‘. Con nó về lấy kinh trao cho xóm, trở vô thấy nhà phát hỏa, cóng cẳng chạy ra không kịp nên bị chết thiêu ! Nó nóng họng chạy về chữa lửa, thấy vợ nó là Hoăng thị lõa thể (trần truồng) chạy ra, Ngưỡng Chí mắc cở nói với xóm rằng : ‘ Người đời đừng bắt chước tôi ở độc nhiều năm, nay thấy Ngọc lịch, còn không tin mà chừa lỗi, lại phê ngạo nhiều câu, nên bị trời phạt nhãn tiền độc quá ! ‘ Nói rồi lửa cháy tới, cứng cẳng chạy không đặng, phải bị chết thiêu. Bầy chó nhảy vô kéo thây ra, xé ăn tới xương cốt ! Xóm coi thấy phê trong Ngọc lịch như vậy, ai cũng rùng mình ! Mới biết tại tội nặng quá, nên trả lẹ lắm ! ! ! Còn vợ nó mắc cở trốn xứ nào bặt tin không biết !
  • GANH GHÉT MUỐN DẸP NGỌC LỊCH BỊ BÁO NHÃN TIỀNTại xứ Tây hương, chùa Thổ cốc (ông Trương), có một sãi, tên Đạt Viễn, đặng cuốn ngọc lịch, cầm qua am Thuần dương mà coi với đạo -sĩ (thầy pháp) tên Quán-Tiên. Hai thầy coi tới chỗ thầy chùa thầy pháp ăn tiền tụng mướn mà tụng sót, thác sau phải vào sổ Bổ kinh mà tụng bổ, vân vân. Lại coi tới chỗ luân hồi, nói thầy chùa thầy pháp có tội nhiều, các ngục hành hình không đặng, phải cho uống thuốc mê, đầu thai tử phúc trung, hoặc chết yểu nhiều kiếp, cho lú quên hết kinh chú, rồi mới hành hình, vân vân. Đạt -Viễn nói : ‘ Chúng ta nhờ cậy tụng kinh mướn mà khá, nếu Ngọc lịch lưu truyền nhiều chỗ, thì nghề làm ăn chúng ta phải ế ! Dầu xé đốt Ngọc-lịch cũng không hết đặng, biết tính làm sao? Quán-Tiên nói : ‘ Tôi biết cầm cơ thỉnh tiên. Thầy sẽ bảo các sãi rủ người ngoài, hoặc bổn đạo đến coi thỉnh tiên. Tôi làm bộ cơ lên, viết chữ nói phá Ngọc-lịch thì chúng hết tin ‘. Đạt -Viễn đi khoe cùng nói tại am Thuần-dương (Lữ-đồng -Tân) thỉnh tiên linh lắm, ai cầu hỏi việc gì, thì đến mà hỏi, hoặc xin toa thuốc xin bùa, thần tiên cũng cho ‘. Thiên hạ nghe nói lưu truyền lần ra, nên ngày nọ nhiều người đến am Thuần-dương coi đạo -sĩ thỉnh tiên tới dưng hương chật trong chật ngoài. Quán-Tiên làm bộ lập bàn xông cơ, lúc đỏ đèn niệm chú, phun nước đốt bùa… Một lát cơ lên, đồng bưng cơ, thầy lại coi, viết chữ trên mâm cây vuông đổ cát. Quán-Tiên kêu ai biết chữ lên coi chữ tiên viết, Người biết chữ lên đàn, coi thấy trong mâm cát có bảy chữ lớn rằng : ‘ Ngô Thuần-dương tổ-sư chí hỉ ‘ và chín chữ nhỏ : ‘ Phàm nhơn khấu vấn giả, tốc tốc lai vấn ‘. (Nghĩa là : Ta là Thuần-dương tổ-sư đến rồi. Ai hỏi sự chi, mau lên mà hỏi). Ai nấy nghe đọc như vậy, thì rùng rùng lên đàn. Quán-Tiên nói : ‘ Đừng lại đông lắm, hỏi rộn không nên, vô từ người mà hỏi tử tế ‘. Đạt -Viễn quì lạy vái lớn rằng : ‘ Chẳng hay trong đời việc chi quí hơn hết, xin tổ-sư chỉ dạy Cơ viết nhiều chữ nhỏ như vầy :
    ‘ Thứ nhứt kính đạo -sĩ (thầy pháp) thứ nhì trọng thầy chùa, Đạo -sĩ dâng sớ, cầu đặng sống lâu. Hòa-thượng tụng kinh siêu-độ, đưa vong hồn về Tây-phương. Duy có một chuyện không nên nghe, là thứ Ngọc-lịch bảo ăn năn chừa lỗi làm lành mà trừ tội ! Có đâu dễ như vậy ! Nhiều người tin khắc bản lưu truyền mà gạt kẻ dốt phải lầm ! Nếu ai gặp Ngọc-lịch thì xé mà đốt đi, thì đặng phước lớn ‘.

    Người coi đọc rồi, lấy giấy chép ra chưa rồi bài ấy. Xảy thấy hào quang xanh lét chiếu vô đàn, Quán Tiên rùng mình té xuống đất, Đạt Viễn cũng nhào theo. Người chép bài ấy, đứng dựa bàn Lữ tổ, trợn mắt hét lớn rằng : ‘ Ta là Liễu tiên đây ! Vưng lịnh tổ sư truyền dạy cho đời rõ : Bởi vì người đời vô phước làm dữ không ăn năn. May nhờ trời nhậm lời Thập vương các thần tâu, ban phát Ngọc Lịch cho Đạm Si đem về, truyền người đời xem mà chừa lỗi, không dám phạm nữa, lời thần tiếng Phật tiên thánh khuyên răn. Thượng đế truyền chỉ Đô thành hoàng mỗi ngày canh phân phiên các du thần ngày đêm soi xét nhơn gian lành dữ. Nay có thầy chùa là Đạt Viễn, thầy pháp là Quán Tiến, dám ganh ghét Ngọc lịch, lên cơ mà giả nói gạt đời. Tội hai đứa ấy đáng đọa địa ngục hành tội cho đến kiếp rồi giam ngoài ngục A tì, không đặng đầu thai. Nếu ai ghét Ngọc lịch, mà không tin, cũng phạt như Quán Tiên Đạt Viễn vậy ‘. Nói rồi, ngó thấy cơ tự nhiên không ai vịn mà lên, viết 33 chữ như vầy :

Tâm bịnh tư tương tâm dược y.
Huyến nhục huân tính thiểu ngật ta.
Thơ trung tự hữu ba la mật.
Năng sử oan khiên tận thoát ly.
Ngô Liễu Tiên khứ dã

Thích nôm :

Bịnh tâm, thời trị thuốc bằng tâm.
Huyết thịt ít ăn đặng phước thầm.
Ngọc lịch thánh thần tiên Phật dạy.
Độ đời khỏi đọa, hết mê lầm,
Ta là Liễu Tiên đi rồi

Người coi chữ sao chép rồi, bước xuống nói rằng : ‘ Hồi nãy tôi chép còn một ít chữ thì hết bài trước. Xảy thấy một ông mặt xanh môi đỏ, lên đàn, bảo tôi truyền lời Lữ-tổ dạy, rồi đằng vân bay mất ! ‘. Ai nấy hãi kinh về hết. Không biết Quán Tiên với Đạt Viễn đâu mất ! Cách vài bữa nghe nói Quán Tiên với Đạt Viễn hai người bầm mình la hoài cho tới chết, mới biết quả báo nhãn tiền lẹ quá ! Ghê thay ! !

KINH-TÍN -LỤC
(truyền Ngọc-lịch, được phước)

Người bị chết trôi, lửa cháy, trộm cướp, tai họa, đều đổ tại thời vận, không dè tại mình làm dữ mà ra. Bởi chẳng kiêng trời đất, không tin Tiên Phật Thánh Thần, bất trung, bất hiếu, bất nhơn, bất nghĩa, hủy hoại lúa gạo, bỏ xả giấy chữ nho, sát sanh hại vật, khoe mình hiếp người, mê đờn ca, đắm tửu sắc, theo bài bạc gian lận, nếu phạm các tội ấy, dẫu có khỏi tội dương pháp, thì cũng bị thần phạt mắc tai họa. Nếu in Ngọc -lịch, gặp ai cũng giảng tội phước quả báo, sau thác đã tiêu hết tội, mà còn sống bây giờ cũng được hưởng phước sống lâu. Nay mới nghe cái tích làm lành đặng phước đổi rủi ra may, kể ra sau nầy, đều việc nhãn tiền, thiên hạ có nghe có thấy.

Ông Huỳnh-phương-Châu ở huyện Đại hưng, trấn nhậm huyện Khúc Dương, làm quau giáo thọ, vợ cũng làm lành. Khi đương làm việc tại đó, khắc bản kinh Kim cang, kinh Cảm ứng, kinh Âm chất, in mỗi thứ vài ngàn bộ, vợ in Ngọc -lịnh vài ngàn cuốn mà cho người, phóng sanh chim cá không biết mấy muôn ngàn mạng. Sanh năm người con trai, đầu lòng là Thúc Lâm đậu Than hóa, còn bốn người kế là Thúc Kinh, Thúc Kỳ, Thúc Huyển, Thúc Tuyên đều đậu.

Mục-quốc-Duy ở huyện Ngộ, đậu Tiến sĩ trào Minh Thiên Khải, ở nhà không làm quan. Hay thỉnh nhiều thiện thơ (kinh lành), thấy Ngọc-lịch liền sao tả cho người thấy, có rách thì dán lại, năm thất mùa thì đâu đậu thí lúa, lúc thiên thời thí thuốc. Con trai là Huệ Viễn đậu Tiến sĩ trào Minh Thuận-trị, cháu tên Đồng đậu Trạng nguyên, Cảnh Tuyên đậu Truyền lô, Kế Nhượng đậu Tiến sĩ. Con của Đồng tên Tảo đậu Bảng nhãn, các chắt đều bổ Hàn-lâm, Tiến sĩ , nối đời làm quan, cũng nhờ bố thí.

Bành-nhất-Âm ở huyện Trường châu, gặp thất mùa thì thí lúa, thấy thiện thơ thì in. Con tên là Cần, sao tả Ngọc-lịch dư trăm mà cho người, thi đỗ Trạng nguyên, chắt là Khải Phong cũng đỗ Trạng nữa, bởi nhờ thí Ngọc lịch.
Từ trước Đình ở huyện Côn san, làm biện lại với quan Nghiêm văn Tịnh. Khi trấn nhậm tỉnh Chiết giang, dân bị nước lụt. Trước Đình nói nung cho ông Nghiêm văn Tịnh bố thí, cứu sống nhiều mạng. Còn làm phước điều nầy : Lúc trào Minh vua Sùng Trinh, bị loạn, giặc bắt vài trăm phụ nữ, gởi tại Trước Đình bảo giữ giùm. Từ trước Đình lén cho phụ nữ bạc tiền, mà thả đi hết, rồi lập thế đốt nhà mà phi tang, đem bản kinh Ngọc-lịch với gia quyến trốn qua ở huyện Thái dương mà lánh nạn. Thuở nay Từ trước Đình in Ngọc-lịch thí cũng nhiều lắm. Đến thái bình, con trai lớn là Từ kiền Học thi đỗ Thám hoa, làm tới chức Thượng thơ , con giữa là Bĩnh Nghĩa cũng đậu Thám hoa, làm tới chức Thị lang, con út là Nguơn Văn làm tới Thiên quan chủng tể. Năm người con của Từ kiền Học là Thọ Cốc, Huỳnh Thọ Mẫn Thọ, Từ Bình, Từ Tuấn đều thi đậu.

Thái bội Lan ở Hồ-châu, ở hiếu đễ (thảo thuận), tiện tặn cho dư mà bố thí, hay thí thuốc cho nhà nghèo, con côi đàn bà góa cậy mượn thì chẳng tiếc. Nếu phụ nữ hoặc trẻ thơ làm mất đồ không dám về nhà, thì cho mà thường lại. Hay cho kinh Ngọc lịch, 84 tuổi không bịnh ngồi xếp bằng mà mãn phần. Lối xóm thấy có Tiên đồng Tiên nữ mời Bội Lan lên xe. Cháu là Khải Tôn, chắt là Thăng Nguơn đều đỗ Trạng.

Hùng triệu Đãnh ở huyện Nam-xương, làm thầy thuốc thuở 19 tuổi. Coi Ngọc lịch thấy khoản dung y hại người bị vào Hụơt -đại địa – ngục nên giữ mình trị bịnh kỹ càng và giảng cho thầy thuốc khác nghe nữa. Mình đã in thí, lại rủ nhiều Người, Phàm trị bịnh không nài cực khổ. chẳng luận giàu nghèo Nếu kẻ nghèo không có sậm, cũng tán nhỏ mà cho không. Nhà giàu thưởng bao nhiêu tiền, đều tùy cơ bố thí cho kẻ khó. Gặp năm thất mùa, thì đi bộ coi mạch chẳng nỡ làm tốn tiền xe người. Vợ cũng hiền đức, thuận theo ý chồng, mùa đông bận áo vải cũng không phiền. Đến 80 tuổi, nhằm ngày sanh Triệu-Đãnh, xảy thấy thinh không hiện ra một bức lụa đỏ, thông giữa căn nhà để chữ vàng rằng :
Phụng thiên đế mạng, Hùng-triệu-Đãnh phó Phước-kiến tỉnh thành hoàng tử nhậm ‘. (Vương chỉ thượng đế phong, Triệu Đãnh làm thành hoàng tỉnh Phước-kiến)
Cách ba bữa mùi hương đầy nhà. Triệu Đãnh tắm gội, thay y phục mới, ngồi xếp bằng mà mãn phần, con cháu thi đậu nhiều đời.

Trung-mạnh-Cầu làm quan Án-sát trấn tỉnh Hà-Nam, tánh ở thanh liêm có ân oai nhơn chánh. Có khắc bản Ngọc lịch, Âm-chất, văn giới sát của Liên-trì đại sư (nay đem chung vô Ngọc-Lịch rồi). Tánh ghét họa hình tục tĩu, bài thuốc tráng dương, bài thuốc phá thai và đồ nghề bài bạc. Nếu gặp thì hủy hết, ai cáo thì được hưởng. Năm nào thất mùa dân đói thì thí lúa, cho tới xứ khác nữa. Vợ cũng cầm đồ mà phụ với chồng in Ngọc-lịch và thiện thơ. Những kẻ nghèo bệnh đều nhờ ơn hai ông bà. Sanh năm trai đều thi đỗ làm quan.
Trương-xuân-Phố nhà giàu mà cần kiệm như nhà nghèo thấy thiện-thơ thì bảo con cháu sao tả cho người. Tánh ở thuần hậu, con cháu hay tả kinh, sau thi đậu tới đời chắt.

Tỉnh Chiết-giang phủ Hàng-châu, Từ-văn-Kỉnh làm đại thần mà hay giảng kinh sách tam-giáo, in Ngọc-lịch, có khắc thêm Kỉnh-tín-Lục là các bài nói trước đó mà cho đời. Mẹ ngày nào cũng niệm Phật Quan-Âm. Năm đói thời thí lúa. Sau con làm tới Chủng-tể, các cháu thi đỗ làm quan.

Trần-thị là họ lớn tại huyện Hải-ninh lập trại hàng thí quan khách, thí thuốc, thí đất cúng, tối trời thấp đèn ngoài đường đi, thí Ngọc-lịch. Con cháu thi đậu, nổi danh tỉnh Chiết-giang.
Tại tỉnh Chiết-giang, phủ Hàng-châu, có bốn họ đại phú là : họ Quan, họ Uông, họ Tôn, họ Triệu, đều nối đời nhơn đức bố thí nên giàu bền không cổi. Họ Quan, cha con thi rồi, về lo giải thiện-thơ, kế nghe báo, cha con đều đậu. Còn họ Uông tới đời nay còn thí thuốc Tử Hà, giàu hoài không cổi. Họ Tôn thí Ngọc-lịch và các thiện-thơ. Họ Triệu thí quan quách quần áo, Bốn họ ấy giàu bền, lại phát quan, là nhờ bố thí làm phước.

  • Lưu-học-Triều ở huyện San-âm, năm Bính Thân, trào Càn-Long dắt gia quyến đến kinh đô đợi bổ ra làm quan. Dọc đường gặp đàn bà bận áo đỏ, nói : ‘ Hồi tôi còn sống, muốn in Ngọc-lịch một trăm bộ, bị ông cản trở hại tôi bây giờ mắc tội dưới Âm-phủ ‘. Lưu học-Triều hãi kinh nhìn lại, là nàng họ Trịnh vợ của người đầy tớ cũ. Đi tới kinh phát bịnh, hay thấy hồn nàng họ Trịnh đến gây hoài. Vợ là họ Khương hay sự ấy, vái in hai trăm bộ thí cho họ Trịnh. Lưu-học Triều vùng nói : ‘ May nhờ ơn Phật tôi được siêu độ ‘. Nghe in vọng nàng họ Trịnh ! Khương thị càng tin, lo in lập tức cúng tại am cô vãi. Cách nửa tháng, hai vợ chồng đồng thấy nàng họ Trịnh về lạy tạ rằng :’ Nhờ ơn in Ngọc-lịch, tôi đặng đầu thai, Diêm vương chia phước cho bà phân nửa, sau gặp nhiều sự may ‘. Lưu-học-Triều thức dậy, liền mạnh.Cầu-phục-Sơ ở tỉnh Nam-kinh là người chí hiếu với cha mẹ, Vợ chết, có con là Đại Vinh cũng có hiếu. Tánh Phục-Sơ không tin có quỉ thần địa ngục. Ngày kia đi buôn bán đặng cuốn Ngọc-lịch đem về, cha con coi với nhau, cha gọi nói huyễn nên bỏ dẹp trên gát ! Con là Đại Vinh mộ lắm, muốn kiếm bản in ra lưu truyền, sợ cha quở nên không dám. Phục-Sơ bịnh nặng, ngó thấy nhiều con quỉ dị hình tới phá, bèn kêu con mà than rằng : ‘ Nay mới biết có quỉ ma địa ngục, ăn năn xưa không tin Ngọc-lịch mà ở theo ! Đại -Vinh nghe nói, liền vái in ba trăm cuốn mà lưu truyền, cầu cha mau mạnh. Phục-Sơ nghe quỉ nói :’ Ông Táo đã đề hai chữ Thuận Tuân trên trán Phục-Sơ, không bao lâu sẽ có chiếu chỉ Ngọc đế đến, chúng ta trốn trước cho mau, kẻo nữa bị quở ‘. Phục-Sơ liền mạnh.

    Hạ-kiến-Mô tự Hữu-kiều, ở huyện Tiền-đường, thuật chuyện chiêm bao rằng :’ Năm Mậu Dần ta dạy học tại nhà họ Cao, Lúc tháng tư, ta soạn sách cũ trên gác, gặp cuốn Ngọc-lịch, coi rồi thì xét lẽ dạy thì phải, song không chắc thiệt sự như vậy. Nhưng mà thấy lời nói rẽ ròi, tuy kẻ dốt đàn bà nghe cũng dễ hiểu, vậy là một lẽ chánh, khuyên đời làm lành răn dữ như sách nho. Vả lại giá in cũng rẻ nên vái in thí một trăm cuốn. Cách vài ngày xem lại, thấy nhiều lời nói quái gở, mình là người học nho, không lẽ nói cho ai nghe. Nghĩ như vậy nên tính lại không in Đã gần đi thi, không rảnh đâu mà suy xét việc ấy. Vào thi nạp quyển rổi, về nhà ngẫm nghĩ mình đặt hai câu chưa êm, e khi phải rớt, nên trong bụng buồn bực, nằm mơ màng thấy một ông cao lớn, ăn mặc đồ xưa, gò má có triều, râu dài như hình ông Tô-đông -Pha vậy. Ta lấy não bài vở trong trường đưa xin xem thử đâu rớt. Ngài dạy rằng :’ Ta biết tánh chàng đủ tài đức, khoa nầy chắc đậu còn ngại nỗi gì ! Song ngươi đã gặp Ngọc-lịch, sao không in mà cho thiên hạ ? ‘ Ta nhớ trực lại, thưa rằng :’ Ngọc lịch e sợ không thiệt chăng ? ‘ Ông già nói :’ Địa ngục dưới Âm phủ, là tại lòng người làm phạm các tội nơi địa ngục. Nếu lòng người chẳng phạm các điều ấy thì có địa ngục cũng như không. Mình thông lý sao còn chưa hiểu mà nghi không thiệt ? Mau in mà thí, đừng dụ dự hồ nghi nữa ? Ta thức dậy, chưa dám nói với ai. Thiệt tới kêu tên mới biết chắc đậu nên in một trăm cuốn và phụ thêm sự chiêm bao vô đây.

    Tôi là Cao-Lan, tự Nhơn-Hòa ngày 11 tôi qua mừng cậu tôi là Hạ-hữu-Kiều thi đỗ. Cậu tôi thuật chuyện chiêm bao điềm lạ… và đưa bài tự thuật cho tôi xem, tôi cũng lấy làm lạ ! Khi ấy con tôi là Hiển Tăng có đậu ba bốn ngày mà không tốt. Đến rằm vợ tôi là Phùng thị, con gái tôi là Trinh-Khanh cũng có đậu nữa. Kế một tên học trò, một con tỉ tất cũng có đậu, tôi lấy làm hãi kinh ! Đêm ấy thắp hương đốt sớ chịu ăn năn chừa lỗi, nguyện in ba trăm cuốn Ngọc-lịch cho người và thả 30 muôn vạn cá. Vái rồi không đầy mười ngày mà bốn người mạnh. Còn Hiển Tăng yếu đuối nên chậm hơn, sau ra mũ lỗ tai rồi cũng mạnh. Lấy làm lạ điều nầy : vợ tôi đậu rựng mọc, mà mọc không đặng, thầy thuốc sợ nhập vô làm khổ, kể từ tôi đốt sớ ba ngày, ra mồ hôi ba lần, rồi tiêu mất ! Nhờ ơn thần phò hộ bình an là vì vái in Ngọc-lịch mà linh nghiệm như vậy mới tin cậu tôi thấy chiêm bao là điềm thiệt, nên khắc thêm sự tôi vào đây, cho thiên hạ biết. Nhằm tháng 9, vua Gia-Khánh 23.

    Kinh Ngọc-lịch lưu truyền đã lâu. Ông nội tôi là Văn-Kỉnh có khắc bản in thí, ai tin làm theo đặng gặp phước đều khắc thêm vào đây rồi. Năm ngoái Hạ-hữu-Kiều thấy chiêm bao, in một trăm bộ. đưa cho tôi một cuốn, tôi động lòng muốn in thêm, ngặt lúc không dự, Năm nay thi đỗ, thân hữu lễ mừng, tôi đều lấy mà in một trăm cuốn và khắc thêm lời nầy vào đây. Từ-Chương ở huyện Tiền-đường, ghi tháng mười, năm Kỉ-Mảo Năm Mậu-Dần, Hạ-hữu-Kiều làm chức Hiếu liêm, qua Tô-châu cho tôi một bổn Ngọc-lịch, tôi coi tới câu : ‘ Địa ngục là tại lòng.’ Tôi ngẫm nghĩ ra lý quả báo. Qua năm Kỉ-Mão cháu lớn tôi bịnh nặng tôi vái in Ngọc-lịch cầu cho cháu mạnh, thiệt quả đặng sống. Tháng hai năm nay, con trai lớn tôi là Lượng-Dần đau chứng yết hầu gần chết, tôi vái trời xin cho con mạnh, thì in Ngọc-lịch phái liền. May ra mồ hôi mà mạnh đổi họa ra phước, nên cám ơn trời phật thánh thần. Khi trước tôi gởi cho bằng hữu qua Hàng-châu in ba trăm bổn nữa, có khắc in thêm khoản nầy cho các nơi khác. Kinh nầy đáng kính, nên tôi ghi vài lời xin các vị thiện tâm rán rủ in ra khuyên đời, thì đặng phước nhiều lắm. Khi ấy niên hiệu vua Đạo Quang năm thứ nhứt là Tân-tị, tháng tám. Cát-võ Điền hiệu Du -nhuận đương ngụ ở Tô Châu đề.

    Niên hiệu Dạo-Quang năm Quí-Tị, mùa thu, tôi là Phan-quang Thọ ở sông Tiền đường, bởi em bạn dì tôi là Châu-phước-Tăng, Táo-thủ-Tăng khắc bản khuyên tiếc lúa gạo, trọng giấy chữ, lại tính khắc Ngọc lịch in cho đời. Tôi nói : ‘ Sự địa ngục là u minh, không đáng tin. Vả lại muốn lượm giấy chữ đà tốn hao, khắc bản tốn nhiều, vô ích ‘. Hai anh em nghe tôi nói thôi làm. Qua mồng ba tháng giêng, năm Giáp Thân (năm sau), tôi chiêm bao đến chùa Văn Xương đế quân, kêu tên thì vào hầu. Tôi vào quì lạy. Phán quan nói lớn rằng :’ Ngươi đã chẳng tin thì thôi, sau cản người làm lành ? ‘
    Tôi tâu rằng :’ Thuở nay tôi không cản ai làm việc lành ‘. Phán quan hét lớn rằng : ‘ Ngươi quên sự cản khắc bản Ngọc-lịch sao ? Ngươi hãy nói nhiều chuyện nên trễ đậu tú tài đã mười năm và chết nhiều đời vợ ; nếu còn nói điên như vậy, thì thấy chết yểu ! Như biết ăn năn, nguyện khắc bản kinh, khuyên đặng ngàn người chừa lỗi làm lành sắp lên, thì tiêu tội trước, mà được phước sau ‘. Ta giựt mình thức dậy, mồ hôi dầm mình ! Song còn nghi mộng mị không chắc. Vả lại nhằm dịp Tết, bằng hữu rủ chơi bời, nên chưa lo khắc bản. Qua 27 tháng sau, ta thổ huyết hai búng, mệt xỉu ! Thấy phán quan khi trước, mặt giận nạt rằng : ‘ Ngươi mới ăn năn rồi cũng quên nữa, nay họa đến rồi ! Bữa sau tôi kêu hai người em mà nói các điềm ấy nguyện ăn chay bảy ngày, mướn nhiều thợ khắc rút, mười ngày rồi bản nầy, khắc thêm sự mình in luôn cho người, xin thiện nam tín nữ rán khuyên đời ăn năn hoặc vẽ ra bức Thập điện theo trong kinh mà treo trên vách, ngó thấy mà giựt mình, năng coi năng đọc Ngọc lịch mà sửa lòng chừa lỗi, làm lành lâu ngày thì có phước. Nếu chẳng tin. e phải bị gương tôi. Phan-quan-Thọ ở huyện Tiền-đường đề.
    Tiên Phật hay nói nhơn quả, còn kẻ học nho hay chê là dị đoan ! Sao chẳng xét ? Thích là Phật, đạo là tiên tuy dạy khác đạo Nho của thánh song cũng dạy người làm lành như nhau, nên tam giáo như một. Tôi xem hết cuốn Ngọc-lịch, ý dạy cũng như sách Nho, mà nói rành rẽ dễ hiểu, không cần văn chương đối đáp, miễn cho đời dễ hiểu mà ở thì hơn, tới đám đàn bà con nít cũng nghe chung đặng nữa. Người đời ít kẻ văn học nên bảo ở nhơn nghĩa trung hiếu thì mấy ai hiểu thấu mà làm, chi bằng Ngọc-lịch nói sự báo ứng, làm điều chi được phước, ở làm sao thì mang họa, người thấy giựt mình mà hồi tâm. Mới coi thì là lời khuyên răn, xét kỹ thiệt dạy đường đạo đức, phải là gìn lòng sửa nết cho nên người trung hiếu nhơn nghĩa chăng ? Như vậy thì công lớn lắm, có phải thua sách nho đâu ? Niên-hiệu Gia-Khánh 22 là năm Dinh-Sửu, mùa xuân ghi lời bạt (không để tên).

  • KHUYÊN PHỤ ÍT LỜI
    (cũng không đề tên)
    Lành dữ người đã làm, phước họa trời không vị. Biết lành đáng làm mà không làm, sao phải người lành. Biết dữ đáng chừa mà không chừa, thiệt là tội dữ. Sự quả báo ai mà không hiểu ? Sao lại không làm phải can tâm làm quấy mà chịu trầm luôn ! Người đời nhờ cơm mà sống nếu có hơi muốn thiu, thì đem đổ, có khi đạp . cơm cháo cũng không sợ tội. Nếu kẻ ăn mày, đặng cơm cháo thiu ấy mà ăn, cũng sống đỡ một lát. Đồ ăn ngon vào bụng thì hóa đồ dơ, sao lại chê cơm nguội ! Huống chi kẻ làm ruộng gần bên lúa gạo cực khổ trăm bề, mình có mà ăn, lại hủy hoại như vậy, tội biết chừng nào ? Họ ăn mì hay đổ nước, sao không nghĩ đồ vụn, cũng là cơm cháo, nếu chừa cặn, thì tôi tớ nó đổ nơi chỗ dơ ! Nếu không ăn nước, thì vớt mì vụn mà ăn cho hết . Nếu huỷ -hoại cơm cháo vật thực thái quá, e bị Lôi -công . Kinh nói cữ sát sanh, hoặc phóng sanh, là nói vật lớn : còn ta nhắc vật mọn cho đời nhớ . Người hay nuôi chim, như chim quyên nhồng sảnh keo két cưỡng sáo, các loài chim hay ăn trùng dế cào -cào, châu chấu v .v … thường ngày phải bắt vật các ấy mà nuôi nó kêu nó nói cho êm tai mà thôi, chẳng kể giết không biết mấy muôn ngàn mạng vật mọn mà nuôi nó, trong lương tâm đành đoạn hay sao ? Còn người gọi ốc là rẻ nên hay ăn song thiếu chi vật rẻ tiền, mà phải ăn ốc ? Một bữa ăn hơn vài trăm mạng ! Đáng lẽ đã cữ, lại mua ốc mà phóng sanh, đặng chuộc tội trước . Còn ăn cá là thường, song những cá nhiều trứng, nếu trứng cá tươi, chưa vấy muối, để lâu cũng còn nở . Sao không dặn kẻ nấu ăn, nếu làm cá gặp trứng thì lấy bao đất mà bỏ xuống sông, mình nhín ăn một đũa mà phóng cả ngàn mạng cá con (ấy là lời ông Lữ đồng Tân giáng cơ có dạy). Phóng sanh thế ấy khỏi tốn tiền mà phước lớn lắm . Nếu vì một miếng ăn mà chết trăm ngàn trứng cá sao đành, dầu vật mọn cũng vậy .

    KHUYÊN ĐỪNG MÊ TỬU SẮC TÀI KHÍ

    Rượu chớ uống nhiều, nhiều thì say, say thì hư việc cả .
    Sắc chớ ngó nhìn, nhìn thì mê, mê thì mắc tội đầu .
    Bạc chớ tập đánh, đánh thì tham, tham thì thâm vốn liếng .
    Giận chớ làm dữ, dữ thì đánh, đánh thì bị lao tù (củ).
    (Phủ) : Kiêng rượu không say, giữ tánh thường .
    Đừng mê hoa nguyệt, chẳng tai ương,
    Không theo bài bạc, còn gia sản .
    Giận tức mà dằn, hoạ khỏi vương (Hành tố).

    TÍCH NGƯỜI KHÔNG TIN GIÁNG CƠ

    có người kia thấy thỉnh cơ thì không tin, nói bày đặt lên giả . Lúc đó cơ lên xưng Ngọc -Hổ tiên sanh . Va cười ! Cơ viết bài thơ 8 câu, va thất sắc, quì lạy . Cơ nói nàng ấy đã thôi ở lầu xanh, có chồng rồi, ngươi đặt thơ gởi âm phủ có lục bài thơ , ta thấy làm án nặng, viết cho ngươi sửa nết, y hoảng, vì mới đặt não chưa gởi mà thần tiên hay . Năm sau y thác . Tám câu thơ y sau đây: Tử quỉ bay hoảng khóc tàn canh .
    Đoái lại Chương đài cụm liễu xanh .
    Hoa nở có kỳ tằm ruột đứt,
    Mây tan không ngỡ bướm hồn đoanh (giấc điệp)
    Nhớ chừng ngõ phớt xô khuôn cửa .
    Quá chén cười mơn nựng bức tranh .
    Còn ấp tì bà năm trước chẳng ?
    Tầm Dương tình cũ trả lời rành ?

    BÀI THỜ KẾT :

    Trần làm gia chánh sách nêu danh :
    Hành thiện tu tâm tại học hành .
    Tố vị giàu nghèo dùng phải tố .
    Thanh liêm phận sự giữ cho thanh .
    Phước nhiều bởi dạ làm lành lắm .
    Đạo cả nhờ kinh giảng nghĩa rành .
    Nhơn đạo xong rồi tiên đạo có .
    Kỳ công chừa quá bước mây xanh .

    PHỤ DỊCH

    LỜI TỰA DƯƠNG-PHÁP -TRÌNH IN KINH NGỌC LỊCH

    Quan-đế giáng bút tại đàn nhà Dương-pháp -Trình, bảo in Ngọc lịch phải thêm 20 khoản hựu tội của Lữ Tổ xin phép Đại -Sĩ với Địa tạng mà giáng cơ và có các tiên giáng .

    LỮ TỔ PHỤNG SẮC GIÁNG BÚT

    và chú giải 20 khoản
    Ta là Thuần -Dương đặt 20 khoản xin ân xá, nhờ Quan-âm Địa -Tạng nhận lời tâu lại, nên truyền chỉ cho ta phải phụng chỉ Thế -tôn Như lai truyền dụ 20 xá khoản . Nếu ai lương thiện, làm theo 20 khoản ầy, thì thành Phất tiên thánh, hiền . Nếu kẻ dữ, thấy 20 khoản nầy, thề cải ác, ở theo điều lệ đây, thì khỏi luân hồi trả quả . Ta giáng bút sau đây :

    1. HIẾU : Con có hiếu với cha mẹ là điều lành trước hết, học trò có hiếu thì thi đỗ . Nếu ai bất hiếu thì trời phạt khốn khổ, tai nạn, chết tật bịnh, chết yểu (chết cách dữ). Dầu người tu tam giáo cũng vậy, hiếu thì siêu, bất hiếu thì đoạ . Sự hiếu đã hết lòng phụng dưỡng, biết có cha mẹ chớ không biết có mình, phải cung kỉnh chịu lụy thiệt tình cho song thân đẹp ý . Nếu cha mẹ bất bình thì con mang bất hiếu .

    2. KỈNH : Kính sợ trời Phật thánh thần, nên không dám làm việc quấy, lòng kiêng sợ là kỉnh, không phải lạy cúng là kỉnh . Như kỉnh kiêng phép nước, không dám phạm phép luật, chớ không quì lạy .

    3. TRUNG : Như tôi ra trận, liều mình trả ơn chúa . Còn quan gián nghị can vua không tiếc mạng . Quan Trấn thanh liêm, thương dân, mảng lo việc nước mà quên việc nhà, vì hết lòng hết sức . Tôi tớ phải hết lòng trung với chủ nhà . Bạn bè trung tín với chủ tiệm . Người thay mặt trung với chủ . Còn như tá điền lo lúa ruộng, dân lo xâu thuế nước, cũng gọi là trung (hết lòng).

    4. NGHĨA : Là sự phải lẽ, không làm trái lẽ, chẳng dám quên ơn, không làm việc quấy . Xử cho phải nghĩa là quân tử .

    5. THỦ : Giữ bổn phận bền chí cho qua thời, không vì nghèo nàn mà đổi tiết, Phải thủ thân vì trọng, không dám làm cho hư thân thể mình, thủ khẩu không dám nói tổn đức .

    6. NHẪN : Nhịn dằn thì được phược khỏi hoạ . Như Lâu sư Đức, Trương công Nghệ, Lưu Khoan . Nếu không nhịn, thì chẳng hoà .

    7. ĐOAN : Ngay thẳng, một sự ngay thẳng thì không tội . không nhập bọn tà vạy, cứ chánh trực công bình, sẽ thành thần thánh .

    8. PHƯƠNG : (Vuông) : Ở có mực thước, làm việc vuông tròn .

    9. NHƠN : Ở có nhơn là hay thương xót, chẳng nỡ hại người hại vật, mình no mà người đói không đành, hay làm ơn phước .

    10. HẬU : Ở có hậu, thì không vong ân bạc ngãi, không khắc bạc ai hết . Người có ân hậu là người hiền lành lắm .

    11. BẤT KIÊU BẤT TRÁ : Chẳng kiêu chẳng gạt : giàu cũng không khoe khoang, giỏi cũng không kiêu ngạo . Châu-công là bực thánh, làm ngự đệ mà còn chẳng dám kiêu . Kiêu như Thạch -sùng, giàu cũng mắc họa . Còn không dối thì là chơn thiệt, chẳng gạt ai, chẳng thất ngôn thất tín thì khỏi phạm vọng ngữ, chơn thiệt mới thành .

    12. BẤT THAM BẤT SÂN : không tham không giận, Tham thì sanh giận, giận thì sanh dữ, nên tam giáo đêu cấm hai điều ấy . Qang-âm nói:

Sân thị tâm trung hỏa, năng thiêu công đức lâm,
Dục hành bồ tát đạo, nhẫn nhục hộ chơn âm .

Thích nôm :

Giận thiệt lửa trong lòng, như thiêu hết đức công .
Muốn theo bồ tát dạy, dằn nhịn dạ như không .

13. BẤT KHÍ BẤT VÕNG : Không dối, không ngang . Không dối thì lòng công, không ngang thì khỏi phạm thượng, giữ tánh khiêm nhường .

14. BẤT TÀ BẤT DÂM : không vạy, không tà dâm . Lòng không chánh là tà, không phải thê thiếp mình, mà muốn là tà dâm (dâm ác) chẳng nên thấy sắc tốt mà sanh lòng tà dâm vọng tưởng .

15. TƯƠNG THÂN TƯƠNG MỤC : Thương nhau, hòa nhau . Lòng thân là tưởng không ghét ai, hòa là không gây tung với ai . Coi bốn biển như một nhà, coi thân ai như thân này . thương người như thể thương ta .

16. ĐỒNG THIÊN ĐỒNG THÀNH : Mình lành khuyên người làm lành, mình thiệt tình, khuyên người thiệt tình cũng hết lòng thành như mình .

17. HÓA KỶ HÓA NHƠN : Sửa mình cho thành đức, rồi lo dạy người sửa người đặng đức hạnh như mình, không tiếc công dạy .

18. HÓA ĐẠO HÓA NGHĨA : Giữ theo đạo luân hồi, xử cho phải nghĩa,
hay trượng nghĩa giúp người, nhứt là bằng hữu sửa lỗi nhau .

19. QẢNG KHUYẾN QUẢNG HÀNH : Rộng khuyên, rộng làm . Mình khuyên người làm lành làm phải, mà mình cũng làm ơn làm phước cho nhiều .

20. VÔ PHI, VÔ THỊ : Không sanh việc thị phi . Nếu lòng ở công, không phân người phân ta, nói người phải mình quấy, thì không sanh việc thị phi .
Nên giữ được 20 điều ân xá thì siêu .

  • ĐỊA -TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT GIÁNG BÚT
    (Tựa Công-quá-cách)
    Người đời không cho con học chữ nho, nên không thông đạo lý. Cứ tưởng cúng chùa dưng hương là lành, rước sãi thầy tu tụng kinh làm chay thì siêu độ vong hồn đặng ! Các điều ấy có phải làm lành làm phước đâu ? Làm lành là làm phải lý, lại khuyên người làm phải, thì trời xuống phước. Ta thấy người đời ở với cha mẹ không hiếu gì, cha mẹ mãn phần thì nói : ‘ Sa địa ngục rồi ! Phải rước sãi làm siêu độ ! ‘ Các sãi bày ra làm mị, như gởi kho vàng bạc, phá ngục, bong đầu phướng đặng tiếp dẫn vong hồn lên Tây phương. Có lẽ gì thọc cây tre mà phá đặng địa ngục ? Nếu quả như vậy, thì kẻ giàu sang làm dữ, thác rồi con cháu rước đông sãi tụng kinh niệm Phật thì vong ra khỏi ngục sao ? Người hiền lành mà nghèo, không tiền rước sãi làm như vậy, thì không ra khỏi ngục sao ? Như vậy trời đất cũng vị nhà giàu mà hà hiếp nhà khó hay sao ?
    Còn như Phật ở Tây phương, công đâu mà vị nhà có tiền phải cứu vớt ? Tâm là Phật, tâm là thiên đường, lòng lành thuận lòng trời thì cầu vong khỏi tội, lòng chẳng lành nghịch lòng trời thì cầu không đặng. Nếu không làm phước cứ mỗi ngày rước thầy tụng kinh cầu siêu hoài, Phật muốn cứu cũng không lẽ cứu được. Ta cũng là Phật lẽ đâu không hiểu phép. Làm lành tuy không cầu Phật mà Phật cũng phò hộ. Nếu làm dữ, có lạy Phật cho đến sói đầu, cầu cũng không đặng. Ta khuyên đời nghe lời ta, cứ ở theo luật Công quá cách, đừng làm các điều dị đoan trái lẽ, tuy chẳng cầu ta cũng độ vọng, không cần rước sãi.

    VĂN-ĐẾ BÁ-TỰ-MINH (GHI TRĂM CHỮ DẠY ĐỜI)

    Quả dục tinh thần sảng Dục ít tinh thần khoẻ.
    Đa tư huyết khí suy, Lo nhiều khí huyết phai.
    Thiểu bôi bất loạn tánh. Vài chung khôn loạn tánh.
    Nhẫn khí miễn thương tài. Một nhịn khỏi hao tài.
    Quí tự tân cần đắc. Sang tại siêng năng, đổ.
    Phú tùng kiệm ước lai. Giàu nhờ tiện tặn dai.
    On nhu chung hữu ích. Dịu mềm sau có ích.
    Cường bạo tất chiêu tai, Hung dữ sẽ mang tai.

    Thuận xử chơn quân tử.
    Khiêu toa thị họa tại.
    Am trung hưu sử tiễn.
    Qai lý Phóng ta ngai.
    Dưỡng tánh nghi tu thiện
    Khi tâm mạt ngật trai,
    Nha môn hưu xuất nhập
    Hương đảng yếu hòa hài.
    An phận thân vô nhục.
    Nhàn phi khẩu vật khai.
    Thế nhơn y thử khuyến.
    Nạn thối phước tin hồi.
    Khéo xử nên quân tử,
    Xui mưu rấm họa thai.
    Chốn thầm đừng bắn lén
    Cảnh nghịch giả ngây hoài.
    Tánh tốt gìn tam thiện.
    Lòng gian uổng thập trai.
    Nha môn đừng kiện cáo
    Làng xóm chớ chê bai.
    Bổn phận nương cơ tạo.
    Thị phi lấp lỗ tai.
    Lời nầy ai giữ đặng.
    Nạn khỏi phước lâu dài.

    ĐƯƠNG -THỦ TRAI -KỲ
    (một năm ăn chay 61 ngày vía lớn)

    Bốn ngày tháng giêng : mồng 1 , lệ tế trời và vía Phật Di -Lạc, (vái…) Mồng 8 vía Ngũ -điện Diêm La Vương (vía ăn năn làm lành như mồng 1). Mồng 9 vía Ngọc-hoàng thượng đế (bái cải quá…) Rằm Thiên quan đại đế.
    Sáu ngày tháng hai : Mồng 1 vía Nhứt điện Tân -quáng vương (nguyên y Ngọc lịch ). Mồng 2 vía Thổ địa chánh-thần. Mồng 3 vía Tử -đồng Văn -xương đế quân. Mồng 8 vía Tam điện Tống đế vương (vái…). Rằm vía Thái thượng Nhạc nguyên soái (tụng Cảm ứng). 19 Quan-âm, (tụng Phổ môn Cứu khổ, Cao-vương).
    Sáu ngày tháng ba : Mồng 1 vía Nhị -điện Sở-giang-vương (vía…). Mồng 2 Chơn -Võ Huyền thiên thượng đế (nguyện tụng kinh Báo ân). Mồng 8 vía Lục điện Biện -thành -vương (vái…). Rằm Lôi -đình đại tướng. 16 vía Chuẩn -đề Bồ -tát. 27 Thất điện : Thái sơn vương, 28 Đông -nhạc đại -đế.
    Năm ngày tháng tư : Mồng 1 Bát đẳng vương (vái…) Mồng 8 Cửu điện Đô thị vương (vái…) 14 Lữ Tổ Rằm Thích -ca Như -lai (tụng Kim -cang). 17 Thập -điện Chuyển -luân xương (vái…)
    Sáu ngày tháng năm : Mồng 1 Nam-cực tiên ông. Mồng 5
    Lôi đình Đặng thiên quân, 11 Đô-thành – hoàng . 13 Quan Thái tử, (14, rằm 2 ngày cấm phòng).
    Bốn ngày tháng sáu : Mồng 1 Rằm 19 Quan-âm thành . 23 Quan đế Linh quan .
    Bốn ngày tháng bảy ; Mồng 1 ngày sóc . Rằm Địa -quang đại đế . 18 Diêu-trì Tây vương mẫu . 30 Địa tạng vương (vái …).
    Bốn ngày tháng tám : Mồng 1 Diệu -tế chơn-quân, Mồng 3 Táo -quân (tụng kinh …) Rằm Thái âm hoàng hậu (tụng thái -âm). 24 Táo mẫu (bà Táo) tụng kinh ông Táo).
    Bốn ngày tháng chín : Mồng 1 Nam-đẩu . Mồng 9 Phong đô đại đế, 13 vía Mạnh -bà . Rằm ngày vọng .
    Năm ngày tháng mười : Mồng 1 Đông-hoàng đại -đế . Mồng 8 Niết bàn (phóng sanh). Mồng 10 ngày cấm phòng . Rằm Thủy quan đại đế . 30 Châu tướng quân (ông Châu).
    Bảy ngày tháng mười một : Mồng 1 ngày sóc . Mồng 4 Khổng tử thánh nhơn . Mồng 6 Tây nhạc đại đế . Rằm ngày vọng . 17 A Di Đà Phật (tụng Di Đà). 19 Thái dương (tụng kinh Thái dương), 23 Trương tiên (Phàm vía này, vía Linh quan Thái tử, ông Châu, vía ông Quan đế, đều tụng kinh ông ; Minh thánh Vĩnh Mạng).
    Sáu ngày tháng chạp : Mồng 1 ngày sóc . Mồng 8 Thích ca . Rằm ngày vọng, 23 đưa ông Táo chánh vía 24, 30 chư Phật giáng thế .
    Tháng nào thiếu, 29 thế 30 . Tháng nhuần tính theo tháng trước .
    Nếu ai ăn chay vía trước nhiều không nổi, thì giữ chay nầy .

    BÀI SÁM HỐI QUÁ, TIÊU TỘI NHỰT KỲ

    Trần -huyền -Trang là thầy Tam-Tạng thỉnh kinh Tây-phương về, có dưng sớ cho vua Đường Thái -Tôn, mỗi tháng có một ngày nhằm giờ lay sám hối cho nhằm hướng chư Phật hội nghị . Vái nguyện ăn năn chừa lỗi cữ và nguyện làm phước mới cho tiêu tội . Chẳng phải lạy không mà trừ tội đặng . Phật cho hối quá tùng thiện .
    Tháng giêng, tảng sáng ngày mùng 1, lạy hướng nam 4 lạy, vái .’ 2, mùng 9, 5 giờ sáng, lạy hướng nam 4 lạy, nguyện . ‘ 3, ‘ 7, tối 10 giờ, lạy hướng tây 4 lạy, tháng 4, mùng 8, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng đông 4 lạy, nguyện ‘
    ‘ 5, ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
    ‘ 6, ‘ 7, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng nam 4 lạy, ‘
    ‘ 7, ‘ 6, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
    ‘ 8, ‘ 8, đứng bóng , lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 9, ‘ 9, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 10, ‘ 1, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
    ‘ 11, ‘ 3, đỏ đền, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
    ‘ chạp ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng tây 9 lạy, ‘

    Ngày ấy ăn chay niệm thầm : Nam mô A-di-đà Phật, đặng lấy câu lạy mấy câu . Chừng lạy, thắp nhang ba cây, căm trên hương, nhắc ghế (bàn) để ngay hướng đó, có đèn cũng đủ, à quả tự ý, không ngơ cũng được . Bận áo dài, đứng chắp tay iệm 6 chữ Di-đà 100 câu, ít nữa 10 câu . Rồi vái tên họn mình gày nay nguyện cải ác tùng thiện . Ở theo Công-quá -cách, cầu êu tội cũ, mà nhờ phước trời Phật thánh thần cho, rồi lạy y số . ân hương, dẹp bàn ghế, niệm Phật . Làm được như vậy ba ăm, thì cảm động bề trên, trong nhà bình an, tai qua nạn khỏi, làm hoài chung thân, sống được phước, thác khỏi tội . Cũng như lặt bàn lạy vía Thập -vương, lạy Thập -vương cứ hướng bắc .

    VĂN-XƯƠNG ĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ DẠY CẦN GẤP

    Ta đã thấy chiếu chỉ Thượng -đế ban cho Bắc -đế (Huyền hiên Thượng -đế) nội tháng chạp, dẫn âm binh đi tra xét tội bất hiếu mà phạt, có hiếu thưởng phước, là xét các mồ mả tử tế, thì là coi con cháu là tên họ gì mà lo cho cha mẹ ông bà, thì hưởng phước lộc thọ gọi là thưởng thiện (hiếu). Nếu mả nào hoang lạnh, tồi tệ, bỏ bê thì tra ra con cháu bất hiếu, thì phạt tai hoạ, bịnh hoạn, nghèo khổ thác yểu . Tùy theo hư nhiều ít ; mà hạt nặng nhẹ . Tại con cháu không biết cội rễ, nên phạt gia đạo hông an . Vì Huyền -thiên thượng -đế là giáo chủ việc báo ân, nên in thưởng có hiếu và phạt bất hiếu . Nên ta cho đời hay trước là giữ .

KHẮC BẢN NGỌC -LỊCH, THỈNH TIÊN CHO TỰA

Lữ Tổ giáng bút :

Người đời làm dữ thái quá, nhờ ơn Địa -tạng truyền chỉ Phong-đô, Thập -vương dọn Ngọc -lịch, xin chỉ Thượng -đế, ban phát trung giới cho người ăn năn chừa lỗi, làm phước đền tội . Lúc đời Tống, nhằm nước Liêu niên hiệu Thái -bình năm Canh-ngũ, sãi nước Liêu là Đạm Si lãnh về, giao cho Phạm nhứt Chơn là Vật Mê đạo -nhơn truyền cho đời . Sau ta đã dọn 20 khoảng xin chỉ ân -xá, giáng bút đem vào sau Ngọc -lịch . Thượng -đế truyền chỉ các thành hoàng mỗi ngày Canh-thân sai du thần đi xét những người tin Ngọc -lịch ăn năn chừa lỗi làm lành, thì cho tiêu tội, ai khắc bản in thí thì cho phước, có bịnh hứa in mà cầu tiêu bịnh lượng theo số mà cho . Bất luận cầu việc chi, cũng cho nguyện in thứ Ngọc -lịch cho nhiều thì đặng . Nay khắc bản thêm, xin ta cho tựa ta nói thêm ít lời . Sự thiên -đường địa -ngục rõ ràng, đừng nghi không có, cứ làm dữ mà mang khổ . Y theo Ngọc -lịch, ăn năn chừa lỗi, làm lành làm phước chuộc tội, công lớn thì theo tiên Phật thánh thần, dư phước đức con cháu được hiển vinh miên viễn . Lành ít sau khỏi sa địa -ngục, đầu thai hưởng phước . Khuyên đời chớ hồ nghi .

LIỄU -TIÊN GIÁNG CƠ TỰA CHÓT

Thượng -đế cho tựa kinh nầy là Từ -ân Ngọc -lịch, nghĩa là như lịch ngọc thường ngày xem, ban ân xá, tha tội kẻ ăn năn . Nếu làm một phước cho trừ hai tội cũ . Làm dư phước thì Táo -quân tâu thưởng nhiều sự may, vân vân .

This entry was posted in THAM KHAO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s